phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung. chính của luận văn gồm có 4 chương. Cơ sở lý luận về tác động của Hiệp định thương mại tự do đến nên kinh tế Việt Nam. Phuong pháp nghiên cứu.
Đánh giá tác động của FTA Việt Nam - Nhật Bản đến nền kinh tế Việt Nam. Kết luận và Hàm ý chính sách. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAC DONG CUA CAC HIEP DINH THUONG MAI TY DO DEN NEN KINH TE 1. TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm tự do hóa thương mại 'Với sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá kinh tế đòi hỏi các nước phải cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa đã thúc đây xu hướng tự do thương mại giữa các quốc gia trên khắp hệ thống kinh tế la dạng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Tự do hoá thương mại là chế độ thương mại mà trong đó không có sự phân biệt đối xứ nào đối với việc bán hàng trong nước và xuất nhập khẩu. Các hoạt động cải cách để đưa chế độ thương mại của một quốc gia đến trang thái thương mại tự đo được gọi là tự do hoá thương mại.
Theo Giáo trình Kinh tế học quốc tế, “Về bản chất, tự do hoá thương mại là quá trình dỡ bỏ dần dần mọi rảo cản. đối với thương mại, bao gồm thuế quan và các phi thuế quan, trước hết nhằm. đạt được sự đối xử công bằng giữa hàng hoá dịch vụ sản xuất trong nước với hàng hoá địch vụ nhập khẩu từ nước ngoài, giữa các nhà sản xuất trong nước với những nhà sản xuất nước ngoài, và sau củng là đạt được chế độ thương. Nội dung chủ yếu của tự do hoá thương mại “Thứ nhất, là quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Một bộ phận không thể thiếu trong bất kỳ một FTA nào chính là các điều khoản quy định vi sắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá có xuất xứ từ các thành viên khác. Không tính tới các mặt liên quan tới an ninh, văn hoá cũng như phong tục tập quán của riêng mỗi quốc gia hay một số nông phẩm, ngày càng có nhiều loại hàng hoá được liệt kê trong danh mục cắt giảm thuế. Thứ hai, là quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan. Hiệp định GATT tại điều XIV điểm 8b ghi rõ: "Một khu vực mậu địch tự do được hiểu một nhóm gồm hai hay nhiều các lãnh thổ thuế quan.
Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế và thương mại sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thỗ đó và được trao đổi thương. mại giữa các lãnh thổ thành lập Khu vực mâu dịch tự do”. WTO không có định nghĩa cụ thé cho khái niệm *Phần lớn các mặt hàng thương mai” nhưng thông lệ áp dụng chung là 90% thương mại. Tuy nhiên 90% số dòng thuế hay.
90% theo kim ngạch thương mại hoặc kết hợp cả hai yếu tố này thi không có sự áp dụng hoặc cách hiểu thống nhất mà tuỳ thuộc vào khả năng và kết quả đảm phán từng FTA. 'Thứ ba, là quy định lộ trình cắt giảm thuế quan. Các qt ta không thể. tiến hành gỡ bỏ hoàn toàn những biện pháp thuế cũng như phi thuế quan đối với một số mặt hàng trong thời hạn một sớm một chiễu.
Chính vì vậy, các ETA luôn có những điều khoản quy định lộ trình cắt giảm mà các nước thành viên phải tuân thủ nghiêm ngặt. Lô trình này dai hay ngắn được các nước dim phán tùy thuộc đặc thù của một số mặt hàng cụ thể hoặc cũng có thể dựa vào. khả năng tự do hóa của của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên khoản thời gian cất giảm thuế thường kéo đài không quá 10 năm, chỉ có một số trường.
hợp ngoại lệ mới vượt quá 10 năm đối với mặt hàng nhậy cảm, đối với nước có trình độ kém phát triển. Thứ tư, là quy định về quy tắt xuất xứ. Để có thể xác định chính xác. nguồn gốc của các mặt hàng, FTA thường nêu lên những vấn đẻ về quy tắt xuất xứ.
Theo đó, hàng hóa khi lưu thông vào thị trường các nước thành viên cần có một hàm lượng nội địa nhất định mới đủ tiêu chuẩn được hưởng ưu đãi nhằm tránh tình trạng nước không tham hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chi lắp ráp tại một nước tham gia hiệp định mà có thể xuất khẩu sang nước còn lại của hiệp định không phái chịu thu, Bên cạnh các nội dung chính của FTA nêu trên, các FTA ngày nay còn có các nội dung khác đề cập tới vấn để tự xúc tiến và tự do hóa đầu tư, chuyển giao công nghệ, lao động, môi trường,. Tuy vậy, mức độ tự do đối với hai Tĩnh vực này không cao như trong hàng hóa. HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO. Khái niệm Hiệp định thương mại tự do Cho tới nay có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm khác nhau về hiệp định thương mại tự do (FTA); Trong số các khái niệm về FTA đã được đưa ra thì đa số các nước và các tô chức trên thế giới chấp thuận một số khái niệm sau: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tai diu XXIV điểm 8b ghi rõ: *Một khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiễu các lãnh thổ thuế quan.
Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XI, XII, XIV, XV và XX) sẽ bị đở bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được thương mại giữa các lãnh thổ lập thành khu vực mậu dịch tự do”. (Ủy Theo quan điểm của Chính phủ Nhật Bản về FTA: “FTA là hiệp định chung có mục tiêu dỡ bỏ thuế quan, thực hiện tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa các nước và khu vực xác định. FTA là một trường hợp ngoại lệ của Hiệp định WTO và Quy chế Tối huệ quốc” (WTO). Theo quan điểm của Chính phú Singapore về FTA: *FTA là một thoả thuận pháp lý rằng buộc giữa hai hay nhiều quốc gia để giảm hoặc loại bỏ các rào cản thương mại và tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch hàng hoá và dich vụ qua biên giới giữa các vùng lãnh thổ của các bên”.
Theo quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ vé FTA: “FTA la sy đàm phán giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm cắt giảm tắt cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại giữa các thị trường của các nước thành. Mỗi nước vẫn có thể áp dụng các rào cán thuế và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định”. Các khái niệm trên đều hàm chứa một ¡ dung cốt lõi xuyên suốt “PTA là một thoả thuận giữa hai hay nhiều quốc gia (hoặc vùng lãnh thổ) nhằm mục đích tự do hoá thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào. đó bằng việc cắt giảm thuế quan, tạo lập các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hoá, dịch vụ và di chuyên vồn giữa các quốc gia thành viên”.
Phân loại các FTA Có nhiều cách phân loại FTA, phân loại theo quy mô số lượng các quốc. gia tham gia đàm phán ký kết là một cách phân loại cho thấy sự khác biệt tương đối giữa các TA. Theo cách này, các FTA được chia làm 3 loại: FTA. song phương, FTA đa phương, FTA tổng hợp, a.
FTA song phương FTA song phương được hiểu don giản là FTA chỉ có 2 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia đàm phán và ký kết. Như vậy chỉ có 2 nước trong. suốt quá trình đàm phán cũng như ký kết một FTA và cũng chỉ có 2 nước này. chịu sự rằng buộc của những điều khoản được quy định trong FTA song phương.
Đây là loại hình FTA phổ biến nhất hiện nay và sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai bởi những ưu thể của nó về quá trình dim phan nhanh gọn, đơn giản, dễ đạt được sự thống nhất với phạm vi hợp tác rộng. hơn, không chỉ giới hạn và tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hoá thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nội dung mới khác như lao động, môi trường ví dụ như: ETA song phương giữa Chile với Hoa Kỳ, FTA song phương giữa Peru với Singapore, b. FTA đa phương. FTA da phuong là 1 FTA có từ 3 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trở lên tham gia đàm phán và ký kết.
Thông thường, các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thường có vị trí địa lý gần nhau, chính vì thế mà loại hình FTA này còn được biết đến với tên gọi khác là TA khu vực. Do số lượng quốc gia tham gia đảm phán ký kết nhiều nên thời gian chuẩn bị cho một FTA đa phương đi vào hiệu lực thường kéo dài hơn nhiều so với FTA song phương. Có nhiều động lực kéo các nước vào một FTA chung, nhưng đa số các nước đều muốn mở rộng thị trường mậu dịch, thắt chặt tình đoàn kết với các quốc gia hoặc. nâng cao vị thể, có tiếng nói hơn trên trường quốc tế.
Một số ví dụ cho hình thức FTA đa phương như: Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, b. FTA hỗn hợp ETA hỗn hợp là hình thức kết hợp giữa song phương và FTA đa phương. Nó giống với một FTA song phương ở chỗ số bên tham gia hiệp. định chỉ là hai bên: Một bên là một khu vực mâu dịch tự do với một bên là một hoặc một số quốc gia đối tác.
Mặt khác nó cũng giống như mot FTA da phương khi phạm vi tác dụng cũng là nhiều quốc gia. FTA hỗn hợp tuy còn nhiều phức tạp trong quá trình đàm phán nhưng loại FTA này vẫn đang tăng nhanh về số lượng trong những năm gần đây bởi nhưng ưu thể của nó so với các FTA song phương và FTA đa phương. FTA hỗn hợp tạo ra một thị trường đây tiềm năng, đa dang và phong phú và phong phú cho các thành viên. Các FTA hỗn hợp trên thể giới đã đang và được ký kết (heo một trong hai cách phổ biến như sau: Theo cách thứ nhất thì tất cả các thành viên của khu vực mậu địch tự do sẽ cùng kết hợp đàm phán với quốc gia đối tác để đi tới thống nhất.