mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những nhân tố mới tác động tới quan hệ thƣơng mại Việt Nam -Nhật Bản Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Nhật Bản Chƣơng 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Việt Nam – Nhật Bản 10 z CHƢƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ MỚI TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN 1. Nhân tố bên ngoài 1. Xu thế toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là một xu hƣớng bao gồm nhiều phƣơng diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Trong đó, toàn cầu hóa ngày nay có bản chất là toàn cầu hóa kinh tế, chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vƣợt qua mọi biên giới quốc gia khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hƣớng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất, sự gia tăng của xu thế này đƣợc thể hiện ở sự mở rộng mức độ và qui mô mậu dịch thế giới, sự lƣu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu. Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hóa kinh tế: - Một là sự phát triển của lực lƣợng sản xuất; quá trình chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất và phân công lao động đã vƣợt khỏi tầm tay của từng nƣớc.
- Hai là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nhất là sự phát triển nhảy vọt về thông tin liên lạc, giao thông, đặc biệt là sự ra đời của công nghệ thông tin. - Ba là nhu cầu mở mang thị trƣờng, xuất khẩu tƣ bản, sự di cƣ ồ ạt về lao động. - Bốn là sự hòa hợp và tham gia rộng rãi vào các hoạt động quốc tế của các quốc gia, đặc biệt là các nƣớc thứ ba. - Năm là sự phát triển và phổ cập của kinh tế thị trƣờng và cơ chế thị trƣờng.
11 z - Sáu là sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc tế về thƣơng mại và tài chính, sự hình thành các hệ thống tài chính, ngân hàng quốc tế, tạo ra khối lƣợng giao dịch tiền tệ, hàng hóa khổng lồ. Toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh rất sớm và dần dần phát triển, để rồi tạo ra những bƣớc phát triển nhảy vọt nhƣ hôm nay. Ngay từ đầu thế kỷ XVI – XVII với sự giao thƣơng giữa các quốc gia, đã hình thành dần các nhân tố quốc tế hóa kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế khởi nguồn từ trao đổi thƣơng mại dần dần phát triển sang nhiều lĩnh vực khác nhƣ sản xuất, dịch vụ, đầu tƣ, môi trƣờng, xã hội.
Nó thu hút tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, phát triển hay chƣa phát triển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các nƣớc có chế độ chính trị khác nhau. Toàn cầu hóa kinh tế mang những đặc điểm: - Tự do hóa các yếu tố của tái sản xuất xã hội mang tính toàn cầu đƣợc thể hiện qua tự do thƣơng mại đang trở thành nội dung quan trọng của quá trình toàn cầu hóa kinh tế. Bằng chứng là, mục tiêu của hầu hết các thể chế kinh tế thƣơng mại song phƣơng và đa phƣơng, đặc biệt là WTO, đều tập trung giải quyết vấn đề tiếp cận thị trƣờng thông qua các cam kết về tự do hóa thƣơng mại. Đây là quá trình dỡ bỏ dần những rào cản trong các hoạt động thƣơng mại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng, nhằm làm cho hoạt động thƣơng mại trên phạm vi quốc tế ngày càng tự do hơn thông qua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt và tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuế quan và không phân biệt đối xử giữa các quốc gia khi tham gia thƣơng mại quốc tế.
- Đẩy mạnh các hoạt động đầu tƣ quốc tế và các quan hệ tài chính khác. Các hoạt động tài chính đƣợc biểu hiện bằng quan hệ tự do hóa về vấn đề tài chính nhƣ: tự do hóa lãi suất; tự do hóa khi các quốc gia tham gia hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính trên toàn thế giới. Quá trình này dẫn đến hệ 12 z thống các nền tài chính quốc gia hội nhập, tùy thuộc và tác động lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ. - Hình thành nhiều và ngày càng nhiều tổ chức liên kết kinh tế quốc tế với những cấp độ khác nhau đang có đƣợc những vai trò nhất định trong quá trình toàn cầu hóa.
- Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động liên kết kinh tế quốc tế. Quá trình liên kết kinh tế quốc tế diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau, từ liên kết song phƣơng đến đa phƣơng phát triển đến khu vực nhƣ: EU, ASEAN, NAFTA, OPEC,… liên khu vực nhƣ APEC, ASEM và liên kết toàn cầu. Sự gia tăng tiến trình khu vực hóa mậu dịch Từ những năm đầu của thập niên 1990, song song với quá trình toàn cầu hoá, chủ nghĩa khu vực đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về lƣợng và về chất. Trƣớc đó, chủ nghĩa khu vực thƣờng mang hình thái khu vực mậu dịch tự do nhƣng kể từ thập niên 1990, hình thái FTA song phƣơng hoặc nhiều bên trở nên phổ biến hơn, với phạm vi hợp tác rộng hơn, không chỉ giới hạn trong việc thực hiện tự do hóa thƣơng mại hàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hoá đầu tƣ, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nội dung mới khác nhƣ lao động, môi trƣờng.
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá cũng đang diễn ra đặc biệt mạnh mẽ. Xu hƣớng tự do hoá thƣơng mại và đầu tƣ đƣợc thúc đẩy bởi sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực hiện có cũng nhƣ đang hình thành. Các khối, tổ chức kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong những cuộc thƣơng lƣợng, sắp xếp và giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong việc thúc đẩy tự do hoá thƣơng mại và giao lƣu kinh tế quốc tế. Bất kỳ một nƣớc nào muốn phát triển đƣợc trong tƣơng lai thì 13 z đều phải tìm cách trở thành thành viên của ít nhất một trong những tổ chức kiểu nhƣ vậy.
Quá trình toàn cầu hoá đã dẫn đến việc hình thành các khối kinh tế – mậu dịch tự do trong khu vực. Hiện nay, nền kinh tế thế giới có rất nhiều khối liên minh, liên kết kinh tế hoặc mậu dịch tự do. Ví dụ nhƣ, liên minh Châu Âu: đƣợc coi là một tổ chức liên kết khu vực rất điển hình, đƣờng biên giới giữa các quốc gia đã bị xóa bỏ không còn hàng rào thuế quan. Mặc dù tiến trình này, diễn ra không hoàn toàn suôn sẻ nhƣ mong muốn, song việc hình thành một thị trƣờng thống nhất đang ngày đƣợc hoàn thiện hơn.
Mục tiêu của toàn cầu hoá kinh tế đó là, lƣu thông tự do hàng hoá; các yếu tố - công nghệ sản xuất cả những kinh nghiệm, kỹ năng quản lý… trên phạm vi toàn cầu. Nhƣng trong tƣơng lai gần, mục tiêu này chƣa thể thực hiện đƣợc. Chính vì vậy, việc từng nhóm nƣớc liên kết lại với nhau, cùng đƣa ra những ƣu đãi cho nhau cao hơn những ƣu huệ quốc tế hiện hành nhƣ: loại bỏ những hàng rào ngăn cách, lƣu thông hàng hoá và các yếu tố sản xuất… giữa các nƣớc. Đây là một khâu quan trọng, đặt nền móng cho quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đƣợc xúc tiến nhanh hơn.
Từ đó có thể khẳng định rằng, khu vực hoá và hợp tác kinh tế toàn cầu hoàn toàn không mâu thuẫn với nhau mà hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy lẫn nhau và bổ trợ cho nhau. Khu vực hoá chỉ nảy sinh trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đã phát triển đến một mức độ nhất định nào đấy. Nhƣng, trong trình độ hợp tác của khu vực hoá lại cao hơn so với toàn cầu hoá kinh tế và khu vực hoá phát triển rộng rãi trên thế giới sẽ lại giúp cho hợp tác kinhtế toàn cầu phát triển ngày càng sâu sắc hơn. Hai tổ chức khu vực có tác động và ảnh hƣởng trực tiếp nhất, liên quan mật thiết đến quan hệ kinh tế đối ngoại của nƣớc ta, đặc biệt là quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản.
Đó là, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á thái Bình Dƣơng (APEC) và Hiệp hội các nƣớc Đông Nam á (ASEAN). ASEAN 14 z ASEAN đƣợc thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967, lúc đầu thành lập mới có 5 nƣớc thành viên. Hiện nay, đã phát triển và mở rộng ra toàn bộ các nƣớc Đông Nam á, số thành viên hiện tại là 12 nƣớc (bao gồm 2 quan sát viên), trong đó có Việt Nam. Ngay trong ngày đầu thành lập, ASEAN đã long trọng tuyên bố mục tiêu hàng đầu của hiệp hội là: “thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng, hợp tác nhằm tăng cƣờng cơ sở vật chất cho một cộng đồng các nƣớc Đông Nam á hoà bình, hợp tác và thịnh vƣợng”.
Kể từ đó cho đến nay, các nƣớc này luôn coi hợp tác kinh tế là một trong những nội dung chủ yếu trong các hoạt động của mình. Là một nƣớc thành viên của ASEAN, các quan hệ kinh tế của Việt Nam với Nhật Bản, nhất là trong quan hệ của ASEAN cộng 3 gồm (Trung Quốc; Nhật Bản; Hàn Quốc) vừa chịu sự chi phối của những nguyên tắc chung trong hợp tác kinh tế của hiệp hội với các nƣớc trong khu vực và các khu vực khác, vừa nằm trong bối cảnh chung quốc tế, chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản với các nƣớc trong khu vực này. Với mục tiêu thúc đẩy sự thống nhất trong khu vực và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết giữa nhân dân các nƣớc ASEAN và nhân dân Nhật Bản, trong 5 năm liền từ 2007 đến 2013, Nhật Bản đã tổ chức “Chƣơng trình Giao lƣu thanh niên Đông Á thế kỷ 21 (JENESYS)”, mời 14.000 thanh, thiếu niên sang Nhật Bản giao lƣu và ngƣợc lại, phái cử thanh niên Nhật Bản tới các nƣớc Asean.