Chương 1: Giới thiệu đề tài Tác giả trình bày một cách tổng quan về đề tài, nêu lên lý do nghiên cứu đề tài, các vấn đề cần giải quyết và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục của đề tài. o Chương 2: Cơ sở lý thuyết Tác giả trình bày các lý thuyết nền và lược khảo các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. o Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tác giả mô tả cụ thể về mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập dữ liệu, cách thức đo lường các biến trong mô hình, các phương pháp hồi quy được sử dụng. o Chương 4: Kết quả nghiên cứu Các kết quả ước lượng được trình bày và thảo luận.
o Chương 5: Kết luận Tác giả tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính, trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra ban đầu cũng như nêu lên một số hạn chế của bài nghiên cứu và ý nghĩa của bài nghiên cứu đối với Việt Nam, đồng thời gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2.1 Đòn bẩy mục tiêu, chi phí giao dịch và dòng tiền Liệu các doanh nghiệp có đòn bẩy mục tiêu? Mất bao lâu để họ đạt được mục tiêu này? Những gì tác động đến những mục tiêu này? Những trở ngại để đạt được mục tiêu này là gì? - Faulkender, Flannery, Watson Hankins & Smith (2011) - Ba câu hỏi trên là tiền đề nghiên cứu của các tác giả Faulkender, Flannery, Hankins & Smith (2011) về dòng tiền và sự điều chỉnh đòn bẩy mục tiêu của doanh nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực này kết luận rằng các doanh nghiệp có mục tiêu, nhưng tốc độ để đạt được mục tiêu này là vô cùng chậm. Điều này đã hướng các nghiên cứu sang tìm kiếm nguồn tài liệu về chi phí điều chỉnh.
Cụ thể, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh đòn bẩy chỉ khi lợi ích đem lại bù đắp nhiều hơn chi phí trong việc tiến tới đòn bẩy mục tiêu của doanh nghiệp. Các nghiên cứu còn tìm thấy các điều chỉnh đòn bẩy tối ưu khi các thành phần cấu thành chi phí giao dịch là cố định hoặc biến đổi. Tuy nhiên, chi phí điều chỉnh đòn bẩy không chỉ phụ thuộc vào chi phí giao dịch, mà còn phụ thuộc vào động cơ doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn vì các lý do khác. Cơ hội đầu tư có lợi nhuận sẽ thúc đẩy một số doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài, và đòn bẩy có thể được điều chỉnh bằng cách chọn giữa việc phát hành nợ so với vốn chủ sở hữu.
Các doanh nghiệp sinh lời thường xuyên tạo ra tiền mặt vượt quá giá trị của cơ hội đầu tư có lợi nhuận và cuối cùng có thể phân phối lợi nhuận cho các chủ thể có lợi ích liên quan. Đòn bẩy có thể thay đổi bằng cách lựa chọn việc trả nợ so với việc mua lại cổ phiếu hay chi trả cổ tức. Tóm lại, bất kỳ cách tiếp cận thị trường vốn nào cũng có thể sử dụng để điều chỉnh đòn bẩy, nếu doanh nghiệp muốn. Dòng tiền thực của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đáng kể đến chi phí của việc điều chỉnh đòn bẩy, cho dù doanh nghiệp đang huy động hay phân phối vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 từ bên ngoài.
Các doanh nghiệp khác không giao dịch với thị trường phải đối mặt với chi phí điều chỉnh cao hơn. Faulkender & Ctg (2011) đưa ra hai ví dụ minh họa ảnh hưởng chung của chi phí điều chỉnh và dòng tiền đến các mẫu điều chỉnh đòn bẩy được quan sát. Ví dụ thứ nhất, hãy xem xét doanh nghiệp A có tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu không đổi và chi phí cao trong việc tiếp cận thị trường vốn bên ngoài. Doanh nghiệp A sẽ bắt đầu với mức đòn bẩy thấp hơn mục tiêu (tối ưu) và nó sẽ tiến hành thu hẹp mức chênh lệch để đạt được mục tiêu này.
Trong năm đầu, dòng tiền thực là gần như bằng không và A hầu như không có cơ hội đầu tư. Trong năm tiếp theo, dòng tiền của A giảm xuống thấp hơn so với số tiền cần thiết để tài trợ cho tất cả các cơ hội đầu tư giá trị. Nếu tiếp cận thị trường vốn bên ngoài đòi hỏi chi phí giao dịch, doanh nghiệp A nhiều khả năng sẽ điều chỉnh đòn bẩy của mình trong năm thứ hai. Tuy nhiên, chi phí tiếp cận thị trường vốn của A vẫn không thay đổi giữa hai năm.
Ví dụ thứ hai, hãy xem xét hai doanh nghiệp, cả hai đều sử dụng đòn bẩy dưới mức mục tiêu và muốn di chuyển lại gần mục tiêu của mình hơn. Doanh nghiệp A có chi phí tiếp cận thị trường vốn bên ngoài thấp, nhưng hiếm khi làm như vậy vì dòng tiền hoạt động của nó thường đủ tài trợ cho các cơ hội đầu tư có giá trị bên ngoài. Việc điều chỉnh đòn bẩy của doanh nghiệp A đòi hỏi một chuyến đi “đặc biệt” đến thị trường vốn, và các chi phí liên quan sẽ được bù đắp chỉ bởi những lợi ích của việc tiến gần hơn đến mục tiêu đòn bẩy. Doanh nghiệp B có chi phí tiếp cận cao hơn doanh nghiệp A, nhưng dòng tiền hoạt động của nó lại biến động mạnh hơn rất nhiều.
Trong một số năm, các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp B rất tuyệt vời đến nỗi họ cần có tài trợ vốn từ bên ngoài. Trong những năm khác, doanh nghiệp B có dòng tiền dư thừa lớn, và nó thấy rằng sẽ tối ưu nếu phân phối cho các cổ đông. Trong khi tham gia vào các giao dịch thị trường vốn, doanh nghiệp này đồng thời có thể điều chỉnh đòn bẩy ở mức chi phí biên tương đối thấp. Do đó chúng ta có thể thấy doanh nghiệp với chi phí điều chỉnh cao hơn (doanh nghiệp B) lại điều chỉnh cơ cấu vốn của mình thường xuyên hơn doanh nghiệp A.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Cả hai ví dụ trên cho thấy tình hình dòng tiền của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đáng kể đến động lực ròng hằng năm để tiến đến một tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu, nếu như doanh nghiệp thực sự quan tâm đến vấn đề này. Hiệu ứng này bổ sung vào các vai trò khác nhau của dòng tiền có thể tác động đến đòn bẩy mục tiêu. Một số nghiên cứu trước đó đã điều tra tác động của các biến chi phí điều chỉnh đòn bẩy mục tiêu hoặc lựa chọn phát hành chứng khoán. Tuy nhiên, Faulkender & Ctg (2012) là những người đầu tiên đề cập đến sự tương tác giữa cách đo lường tốc độ điều chỉnh và dòng tiền, và từ đó đánh giá tác động chung của chi phí giao dịch và nhu cầu dòng tiền đối với việc điều chỉnh của các doanh nghiệp về phía đòn bẩy mục tiêu.2 Mô hình đòn bẩy điều chỉnh từng phần Theo Flannery & Rangan (2006), mô hình điều chỉnh từng phần tiêu chuẩn của cấu trúc vốn doanh nghiệp được ước tính hồi quy dưới dạng: 𝑫𝒊,𝒕 𝑫𝒊,𝒕−𝟏 𝑳𝒊,𝒕 − 𝑳𝒊,𝒕−𝟏 ≡ − = 𝝀((𝑳∗𝒊,𝒕 − 𝑳𝒊,𝒕−𝟏 ) + 𝝐̃𝒊,𝒕 (1) 𝑨𝒊,𝒕 𝑨𝒊,𝒕−𝟏 Trong đó, 𝐷𝑖,𝑡 là dư nợ của doanh nghiệp tại thời điểm 𝑡; 𝐴𝑖,𝑡 là giá trị tài sản sổ sách tại thời điểm 𝑡; 𝐿𝑖,𝑡 là đòn bẩy tại thời điểm đang xét; 𝐿𝑖,𝑡−1 là đòn bẩy có độ trễ; 𝐿∗𝑖,𝑡 là tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu dự kiến, Các chỉ số trên được dựa trên thông tin của doanh nghiệp tại thời điểm 𝑡 − 1.
Giá trị 𝜆(%) là khoảng cách giữa đòn bẩy tại thời điểm xem xét và đòn bẩy mục tiêu. 𝜆 thường được gọi là “tốc độ điều chỉnh” đòn bẩy hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp. Lưu ý rằng phương trình (1) giả định rằng sự điều chỉnh của doanh nghiệp bắt đầu từ mức đòn bẩy của các kỳ báo cáo trước, 𝐿𝑖,𝑡−1. Nếu thiếu bất kỳ sự điều chỉnh cấu trúc vốn chủ động nào, đòn bẩy sẽ thay đổi từ 𝐿𝑖,𝑡−1 , khi doanh nghiệp công bố thu nhập hằng năm của mình trên vốn chủ sở hữu.
Một hoạt động điều chỉnh chủ động đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia vào thị trường vốn bằng một cách nào đó, cho dù TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 chỉ là để chi trả cổ tức. Tương tự như vậy, chỉ có các điều chỉnh chủ động mới đòi hỏi chi phí giao dịch, vì thế, kiểm tra các mô hình điều chỉnh nên tập trung vào các điều chỉnh chủ động. Phương trình (1) được điều chỉnh để tách thay đổi đòn bẩy của một doanh nghiệp thành phần tự vận hành, bị động và điều chỉnh chủ động: 𝒑 𝒑 𝑳𝒊,𝒕 − 𝑳𝒊,𝒕−𝟏 = 𝜸(𝑳∗𝒊,𝒕 − 𝑳𝒊,𝒕−𝟏 ) + 𝝐̃𝒊,𝒕 (2) 𝑝 𝐷𝑖,𝑡−1 Trong đó, 𝐿𝑖,𝑡−1 ≡ và 𝑁𝐼𝑖,𝑡 là thu nhập ròng trong suốt năm kết 𝐴𝑖,𝑡−1 +𝑁𝐼𝑖,𝑡 thúc tại thời điểm 𝑡. 𝑝 Đòn bẩy tại 𝑡 sẽ là 𝐿𝑖,𝑡−1 nếu doanh nghiệp không tham gia vào các hoạt động thị trường vốn.
Vế trái của phương trình (2) biểu thị hoạt động điều chỉnh chủ động của doanh nghiệp hướng tới sự thay đổi cấu trúc vốn mục tiêu. Faulkender & Cộng sự (2012) tiếp nối các nghiên cứu trước trong nghiên trước đây, họ ước tính một mô hình điều chỉnh từng phần xác định rõ tỷ lệ vốn mục tiêu là tùy thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã sử dụng cả 2 biện pháp vốn chủ sở hữu theo giá trị thị trường và giá trị sổ sách, nhưng trong mô hình này các tác giả chỉ tập trung vào đòn bẩy theo giá trị sổ sách để phân tách các phần chủ động và bị động đơn giản hơn. Để giảm bớt tác động ngoại lai, tất cả các tỷ số được lược tại phân vị 1 và 99.
Phương trình hồi quy (1) và (2) đều dựa vào một đòn bẩy mục tiêu ước tính, 𝐿𝑖,𝑡. Điều thách thức nhất của việc ước tính cũng như hồi quy là xây dựng được mô hình ước lượng đòn bẩy mục tiêu của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu gần đây ước tính đòn bẩy mục tiêu song song với tốc độ điều chỉnh hướng về mục tiêu, như trong (2). Faulkender & Ctg đã ước lượng một mục tiêu trước; sau đó (1) hoặc (2) có thể được ước lượng bằng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) với sai số chuẩn bootstrap.
Các lý thuyết gần đây về các mô hình đòn bẩy doanh nghiệp kết luận rằng việc cho phép điều chỉnh không hoàn toàn là rất quan trọng, và các hiệu ứng cố định của doanh nghiệp được yêu cầu để đo lường được các mức độ không đồng nhất không quan sát được. Vì thế, Faulkender & Ctg (2012) bắt đầu bằng cách ước tính một mô TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.