CHƯƠNG 1 Đây là chương tiền đề quan trọng cho những chương sau, chương này đề cập đến lý do chọn đề tài, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những đóng góp có ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn, giới thiệu phương pháp nghiên cứu phục vụ cho mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu mà tác giả đề ra, dựa trên cấu trúc 5 chương chặt chẽ, khái quát những nội dung cần có của một bài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHOA HỌC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Vốn trí tuệ và đo lường vốn trí tuệ 2.1 Tổng quan về vốn trí tuệ và các thành phần của vốn trí tuệ Các nghiên cứu về vốn trí tuệ đã được tiến hành từ những năm 1990, và nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, cùng với đó đã tạo ra nhiều định nghĩa khác nhau về vốn trí tuệ tùy theo ngành nghề và các quan điểm khác nhau. Theo Annie Brooking (1997) vốn trí tuệ là sự kết hợp của bốn thành phần chính: tài sản thị trường, nguồn nhân lực, sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng.
Tương tự, Stewart, Edvinsson và Malone cũng có những đóng góp quan trọng vào định nghĩa vốn trí tuệ. Theo Stewart (1997) vốn trí tuệ là các vật chất trí tuệ bao gồm kiến thức, thông tin, quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiệm có khả năng tạo ra giá trị cho một công ty. Trong khi đó, Edvinsson và Malone (1997) coi vốn trí tuệ mang lại lợi thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệp từ các nguồn lực vô hình là việc sở hữu kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, công nghệ tổ chức, mối quan hệ khách hàng và kỹ năng chuyên môn. Ngoài ra, từ góc nhìn của kế toán vốn trí tuệ cũng có thể được định nghĩa là khoảng chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của một công ty.
Vì vốn trí tuệ cũng được hiểu như một loại tài sản vô hình nên khó xác định và định lượng mức đóng góp của nó trên báo cáo tài chính (Maditinos và cộng sự, 2011). Tuy nhiên cũng xét từ quan điểm kế toán Trần Thị Thương, Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Thị Mai Anh (2021) cho rằng vốn trí tuệ là khái niệm rộng hơn tài sản vô hình. Vì theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 38 (IAS 38) về tài sản vô hình là doanh nghiệp chỉ có thể ghi nhận một tài sản vô hình khi thỏa mãn được ba điều kiện: có thể nhận dạng được, kiểm soát và mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Mà các thành phần của vốn trí tuệ: vốn con người (nhân viên và năng lực của họ), vốn quan hệ (mối quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng) và vốn cấu trúc (phần mềm, tài liệu và quy trình tổ chức) duy chỉ có vốn cấu trúc là thỏa mãn và được ghi nhận một phần là tài sản vô hình trên bảng cân đối kế toán.
7 Tuy có nhiều định nghĩa về vốn trí tuệ nhưng định nghĩa của Hiệp hội Kế toán quản trị công chứng Anh Quốc (CIMA) được xem là toàn diện và nhiều học giả đã áp dụng nghiên cứu, CIMA (2001) khẳng định vốn trí tuệ là một khái niệm rộng được chia thành các loại khác nhau, trong đó phổ biến nhất là vốn con người, vốn cấu trúc và vốn quan hệ: Theo đó CIMA làm rõ vốn con người là giá trị riêng biệt mà mỗi cá nhân sở hữu bao gồm các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm và được coi là tài sản của tổ chức. Cụ thể là tính sáng tạo, năng lực đổi mới, bí quyết và kinh nghiệm trước đây, cách làm việc nhóm, tính linh hoạt của nhân viên, khả năng chịu đựng, động lực, sự hài lòng, năng lực học tập, lòng trung thành, được đào tạo và giáo dục chính quy. Tuy nhiên những giá trị này mang tính cá nhân nên nó sẽ rời đi cùng nhân viên khi họ không còn làm việc trong tổ chức. Vốn cấu trúc được định nghĩa là kiến thức tồn tại trong công ty.
Nó bao gồm các thủ tục, hệ thống, văn hóa và cơ sở dữ liệu của tổ chức. Ví dụ như cơ sở hạ tầng, quy trình làm việc của tổ chức, hệ thống lưu trữ tài liệu, công nghệ thông tin, bằng sáng chế, nhãn hiệu, năng lực học tập và văn hóa truyền thống mang nét riêng của tổ chức. Một số trong đó có thể được bảo vệ hợp pháp và trở thành quyền sở hữu trí tuệ, thuộc sở hữu hợp pháp của công ty dưới quyền sở hữu riêng. Và là tài sản thuộc công ty khi nhân viên có rời đi.
Vốn quan hệ là khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo và duy trì các nguồn lực liên quan đến các mối quan hệ bên ngoài của công ty – với khách hàng, nhà cung cấp hoặc đối tác trong nghiên cứu và phát triển. Nó bao gồm một phần vốn nhân lực (nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng) và vốn cấu trúc (danh tiếng, thương hiệu,.) tác động đến các mối quan hệ của công ty với các bên liên quan (nhà đầu tư, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp). Ví dụ về điều này là lòng trung thành của khách hàng, sự hài lòng của khách hàng, mối liên hệ với nhà cung cấp, sức mạnh thương mại, khả năng đàm phán với các tổ chức tài chính và các hoạt động phục vụ cộng đồng. Tóm lại, một công ty không thể tồn tại nếu không có sản phẩm, dịch vụ giải quyết được vấn đề của khách hàng, hay thiếu lòng trung thành, kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên; cũng như phải đi kèm với một mạng lưới phân phối rộng 8 khắp,.
Thông qua sự kết hợp và tương tác một cách phức tạp của các yếu tố thuộc vốn trí tuệ cũng chính là các nguồn lực nội tại có thể mang lại sự phát triển bền vững và thành công cho các tổ chức tài chính. Phương pháp đo lường vốn trí tuệ Mối quan tâm về vốn trí tuệ đã dẫn đến sự phát triển của các phương pháp đo lường khác nhau. Vì tính chất vô hình nên việc đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trí tuệ gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, một trong những phương pháp trên được cho là khó đo lường vì vấn đề ở sự bất cân xứng thông tin, nhiều dữ liệu của công ty mang tính nội bộ, những nhà đầu tư, nhà phân tích hay những người bên ngoài khác chỉ có thể tiếp cận những thông tin do công ty cung cấp trên website.
Do đó, mô hình đo lường hệ số giá trị gia tăng của vốn trí tuệ (The value-added intellectual coefficient model – VAIC) được ưa thích sử dụng phổ biến trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của vốn trí tuệ đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Pulic đã phát triển và giới thiệu mô hình hệ số trí tuệ giá trị gia tăng (VAIC) vào năm 2000. Ông cho rằng doanh nghiệp nên tập trung vào tăng trưởng dài hạn, tức là cần tập trung vào việc tạo ra giá trị và quản lý giá trị, trong khi đó kế toán truyền thống chỉ chủ yếu tập trung vào kiểm soát chi phí. Do đó, phương pháp này giúp nhà quản lý tận dụng tiềm năng của công ty dựa trên kết quả kinh doanh hiện tại.
Theo đó, chỉ số VAIC có thể được coi là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Nó đo lường bao nhiêu giá trị mới được tạo ra từ nguồn lực giới hạn về vật chất, tài chính và con người của doanh nghiệp. Tỷ lệ VAIC càng cao thì càng thuận lợi cho doanh nghiệp và khả năng tạo ra giá trị càng lớn thông qua việc sử dụng tài sản của công ty, bao gồm cả các nguồn lực vô hình. VAIC giúp hiểu rõ hiệu quả kinh doanh tổng thể và chỉ ra “năng lực trí tuệ” của doanh nghiệp.
Để quản lý giá trị, trước tiên nó phải đo lường được. Trong mô hình này, hai nguồn lực chính tạo ra giá trị gia tăng 9 trong công ty là: vốn sử dụng (capital employed) và vốn trí tuệ (intellectual capital). Vốn sử dụng bao gồm vốn vật chất và vốn tài chính, trong khi vốn trí tuệ bao gồm vốn con người và vốn cấu trúc. Điểm mấu chốt ở mô hình này là tác giả xem chi phí nhân viên là một phần tài sản giúp tổ chức tạo ra giá trị trong tương lai (Public, 2000; 2004).
VAIC được tính toán theo trình tự năm bước như sau: Bảng 2. Mô hình VAIC Các bước Tính toán các thành tính Công thức tính Chú thích phần thuộc VAIC VAIC Giá trị gia tăng (Value VA = OP + HC + D+ A OP (Operating Profit): Bước 1 Added) lợi nhuận thuần từ hoạt Hiệu quả vốn sử dụng CEE = VA / CE động kinh doanh Bước 2 (Capital employed HC (Human Capital): efficiency) chi phí nhân viên Hiệu quả vốn nhân lực HCE = VA / HC D (Depreciation): khấu Bước 3 (Human capital hao tài sản hữu hình efficiency) A (Amortization): khấu Hiệu quả vốn cấu trúc SCE = SC / VA hao tài sản vô hình Bước 4 (Structural capital CE (Capital efficiency) Employed): được đo VAIC = HCE + SCE lường bằng vốn chủ sở Hiệu quả vốn trí tuệ + CEE hữu Bước 5 (Value added SC = VA – HC intellectual coefficient) Nguồn: Tác giả tổng hợp Quy trình tính toán đơn giản và dữ liệu tính toán VAIC dễ dàng thu thập được từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên hằng năm của doanh nghiệp, do đó kết quả của VAIC là khách quan và có thể so sánh nhiều giai đoạn của một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau (CIMA, 2001). Bên cạnh đó, VAIC cũng tồn tại một số hạn chế. Đầu tiên, vì công thức tính toán quá đơn giản nên nó được cho là 10 chưa phản ánh hết ý nghĩa của vốn trí tuệ khi vốn con người chỉ thể hiện qua chi phí tiền lương của nhân viên vì có thể doanh nghiệp đang sử dụng nguồn lực không hiệu quả (CIMA, 2001).
Ngoài ra, mô hình này chưa đề cập đến vốn quan hệ (Vishnu & Gupta, 2014). Một hạn chế khác là mô hình không đo lường được nếu giá trị gia tăng nhận giá trị âm trong trường hợp lợi nhuận của các công ty thua lỗ, vì thế cần loại bỏ các công ty này trong quy trình xử lý dữ liệu (Zeghal & Maaloul, 2010). Hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và phương pháp đo lường Hiệu quả tài chính là thước đo khả năng tạo ra doanh thu hoặc lợi nhuận của một công ty. Làm thế nào để đo lường hiệu quả tài chính của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận, đặc biệt là các công ty trong ngành tài chính như ngân hàng.