chương I, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam). Với định nghĩa này, thuật ngữ người tiêu dùng đồng nghĩa với “người sử dụng cuối cùng” hoặc khách hàng cuối cùng. Quan niệm này chưa bao quát được phạm vi nghiên cứu hành vi người tiêu dùng. Vì vậy, thuật ngữ người tiêu dùng cần được mở rộng và hỗ trợ bằng một số thuật ngữ cụ thể hơn giúp cho việc nhận diện đầy đủ “chân dung” người tiêu dùng.
Người tiêu dùng (consumer) là một thuật ngữ có phạm vi mô tả khá rộng. Dưới góc độ kinh tế, theo Từ điển Kinh tế học hiện đại thì người tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, cá nhân và nhóm 8 cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ý là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân”. Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã định nghĩa: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại” Hành vi người tiêu dùng Hành vi người tiêu dùng là sự tương tác không ngừng biến đổi giữa sự cảm thụ và nhận thức, hành vi và các yếu tố môi trường thông qua đó con người thực hiện các hành vi trao đổi.
Thuật ngữ hành vi người tiêu dùng được hiểu là hành vi mà một người tiêu dùng thể hiện trong khi tìm kiếm, mua sắm, sử dụng, đánh giá và loại bỏ sản phẩm/dịch vụ mà họ kỳ vọng sẽ thỏa mãn nhu cầu của mình. Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ tập trung tìm hiểu xem các cá nhân ra quyết định như thế nào để “tiêu xài” những nguồn lực mà họ có (tiền bạc, thời gian, những nỗ lực) vào các sản phẩm/dịch vụ liên quan đến tiêu dùng; bao gồm họ mua gì, vì sao mua, mua như thế nào, mua khi nào, mua ở đâu, mức độ thường xuyên mua. Schiffman, Leslie Lazar Kanuk - Consumer Behavior, 1991). Theo Kotler (2001), hành vi của khách hàng chủ yếu là quá trình để ra quyết định và hoạt động ra quyết định: Bảng 2.1: Hành vi của khách hàng Quá trình ra quyết định mua Quyết định của người mua Thu thập để hình thành nhận thức Chọn sản phẩm Xem xét thông tin Chọn công ty Phân tích, đánh giá thông tin Chọn đơn vị phân phối Ra quyết định hành vi Chọn thời gian Hành vi sau khi mua Chọn số lượng Nguồn: Kotler (2001) 9 Lewis (2006) cho rằng hành vi tiêu dùng là quá trình cho phép cá nhân hay một nhóm được lựa chọn, sử dụng, mua sắm các loại sản phẩm dịch vụ hoặc ngược lại.
Quá trình dẫn đến hành vi này thông qua quá trình suy nghĩ, kinh nghiệm tích lũy để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ. Walsh và Mitchell (2010) cho rằng hành vi người tiêu dùng sẽ mua các loại sản phẩm gì, tại đâu, trong bao lâu, bao nhiêu lần? Để đưa ra được quyết định thì cần phải trải qua hàng loạt các đánh giá và suy ngẫm. Việc nghiên cứu hành vi tiêu dùng rất quan trọng đối với Doanh nghiệp, hiểu được hành vi của NTD giúp DN có được khách hàng mục tiêu và nhanh chóng phát triển. Trước đây, DN có thể tìm hiểu NTD qua quá trình trao đổi, buôn bán trực tiếp thường ngày.
Với sự tăng trưởng về kinh tế và thương mại điện tử như hiện nay đã làm cho doanh nghiệp không còn nhiều cơ hội để tiếp xúc trực tiếp với NTD nữa. Do đó, để hiểu được HV tiêu dùng của khách hàng, ngày càng có nhiều DN thực hiện NC hành vi trước khi xây dựng kế hoạch hoặc đưa ra quyết định kinh doanh (Kotler và Keller, 2012). Nghiên cứu hành vi tiêu dùng sẽ nhận thấy được phản ứng của NTD với những ảnh hưởng bên ngoài và phản ứng tâm lý bên trong diễn ra trong quá trình mua sản phẩm. Nếu sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của NTD thì họ sẽ tiếp tục mua sản phẩm đó ở những lần tiếp theo và cao hơn nữa là họ sẽ sẵn lòng chia sẽ thông tin về sản phẩm đó đến những người khác sử dụng.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu HV tiêu dùng không phải là điều dễ dàng vì một vài yếu tố khác có thể tác động đến hành vi của NTD trước khi đưa ra lựa chọn mua (Hanaysha, 2017). Để hiểu được hành vi mua của NTD không phải đơn giản nhưng đó là một phần rất quan trọng để thấu hiểu khách hàng. Điều này rất có ý đối với DN, bởi vì doanh nghiệp phải hiểu hành vi mua của NTD để có thể dự báo doanh số, thị hiếu của NTD từ đó có giải pháp cho các quyết định tiếp thị, duy trì khách hàng, và nâng vị thế cạnh tranh. Trong một số trường hợp, NTD thường dành ít thời gian hơn để suy nghĩ về việc mua các hàng hóa có giá trị thấp, bởi vì họ cho rằng việc đáp ứng nhu cầu của họ là cần thiết hơn (Hanaysha, 2017).
Đặc biệt đối với ngành hàng gia dụng khi mà công dụng và giá cả sản phẩm khá tương đồng nhau, NTD sẽ phân vân hơn khi ra quyết định mua hàng, do đó NTD thường chọn mua sản phẩm theo cảm 10 tính cá nhân, khi đó CSR được xem như một chiến lược để làm gia tăng hành vi mua hàng thực tế. Lý thuyết nghiên cứu 2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) Lý thuyết các bên liên quan cho rằng DN không chỉ có trách nhiệm với cổ đông mà còn có trách nhiệm với các bên liên quan. Các bên liên quan là các đối tượng tham gia, bị ảnh hưởng hoặc được hưởng lợi từ việc kinh doanh của DN như khách hàng, người lao động, môi trường, cộng đồng, đối tác, chính phủ,.
Freeman (2010) đã tuyên bố rằng người tiêu dùng là bên liên quan bị ảnh hưởng hầu hết bởi việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Servera-Francés và cs (2019) cho rằng người tiêu dùng được xem là bên liên quan quan trọng nhất của doanh nghiệp. Hiện nay, người tiêu dùng đã chú ý đến các vấn đề đạo đức của doanh nghiệp và đóng góp của doanh nghiệp vào xã hội khi ra quyết định mua sản phẩm (Carrigan và cs, 2004). Cổ đông Tổ chức Chính phủ chính trị Nhà cung Doanh Người tiêu ứng nghiệp dùng Hiệp hội Người lao Cộng đồng thương mại động Mô hình 2.2: Lý thuyết các bên liên quan Nguồn: Donaldson và cs (1995) Lý thuyết các bên liên quan được nhiều nhà NC về CSR sử dụng phổ biến nhất trong thời gian gần đây.
Theo lý thuyết này, các bên liên quan là bất kỳ nhóm hay cá nhân bị ảnh hưởng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi các hoạt động của DN (Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017). 11 Người tiêu dùng đã chú ý đến CSR khi lựa chọn mua sản phẩm, có khuynh hướng lựa chọn mua các hàng hóa không gây nguy hại đến môi trường. Khi trình độ học vấn tăng lên, người tiêu dùng đã nhận thức rõ hơn về hành vi mua hàng đối với các doanh nghiệp thực hiện tốt CSR (Farrukh, 2016). Do đó, doanh nghiệp không những phải hiểu rõ và thực hiện tốt CSR mà còn phải hiểu rõ hành vi tiêu dùng, vì người tiêu dùng có thể sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo doanh nghiệp thực hiện CSR.
Người tiêu dùng là người sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp, sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào người tiêu dùng. Các hoạt động CSR của doanh nghiệp có mức độ tác động nhất định đến hành vi của người tiêu dùng, vì vậy doanh nghiệp cần áp dụng CSR như là một chiến lược tiếp thị để cải thiện mối quan hệ với người tiêu dùng (Maignan và cs, 2004). Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) được xem là lý thuyết tiên phong trong nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng. Lý thuyết TRA là mô hình dự báo về ý định hành vi phụ thuộc vào thái độ và chuẩn chủ quan của môi trường xung quanh người đó.
Mô hình dựa trên giả định rằng con người ra quyết định có nhận thức căn cứ vào thông tin sẵn có để thực hiện hay không thực hiện hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975). Lý thuyết TRA xác định rằng nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định hành vi thực tế của người tiêu dùng là ý định. Theo Fishbein và Ajzen (1975), ý định sẽ chịu tác động bởi 2 yếu tố gồm thái độ vi và chuẩn chủ quan của người tiêu dùng đối với hành vi. Thái độ đối với hành vi Ý định hành Hành vi vi Chuẩn chủ quan Mô hình 2.3: Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý(TRA) Nguồn: Ajzen, 1975 12 2.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior-TPB) Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được xem là lý thuyết mở rộng của lý thuyết TRA. Ajzen (1991) đã cải thiện những khuyết điểm của lý thuyết TRA thành lý thuyết TPB. Lý thuyết TPB đã được nhiều học giả sử dụng để NC hành vi của NTD. Theo lý thuyết TPB, có ba yếu tố cơ bản dùng để dự đoán ý định hành vi là Thái độ của NTD, Chuẩn chủ quan (được hiểu là những ý kiến từ những người xung quanh mà NTD quan tâm), và Nhận thức kiểm soát hành vi (NTD kiểm soát HV tiêu dùng của mình thông qua nhận thức của bản thân) (Ajzen, 1991) Thái độ đối với hành vi Chuẩn chủ Ý định hành quan Hành vi vi Nhận thức hành vi Hình 2.4: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Nguồn: Ajzen, 1991 2.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan 2.Các nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Thị Kim Ánh & Nguyễn Thị Minh Hòa (2018) Nghiên cứu ảnh hưởng của CSR đến lựa chọn thương hiệu của khách hàng. Nghiên cứu đã xây dựng thang đo các nội dung cấu thành CSR theo cảm nhận của người tiêu dùng nhằm ý kiến khách hàng về CSR đến niềm tin thương hiệu của doanh nghiệp. Thông qua bảng hỏi gồm 22 câu hỏi về trách nhiệm xã hội và 7 câu hỏi về niềm tin thương hiệu, nhóm nghiên cứu đã khảo sát cảm nhận của khách hàng đối với doanh nghiệp vận tải Phúc Thuận Thảo. Sau đó nhóm nghiên thực hiện phân tích và chỉ ra sự ảnh hưởng tích cực của CSR đến niềm tin thương hiệu.