CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 2.1 Các công trình nghiên cứu về Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến chất lượng môi trường Mặc dù chất lượng môi trường có thê bị tác động bởi dòng vốn FDI, nhưng vai trò của FDI rất quan trọng đối với sự tăng trưởng thông qua sự hình thành vốn, tăng năng suất và chuyền giao công nghệ (Alvarado và cộng sự, 2017; Seker và cộng sự, 2015; Habib va Sarwar, 2013; Chaudhry và cộng sự, 2017). Cuộc tranh luận về tầm quan trọng của dòng vốn FDI đối với chất lượng môi trường bắt dau từ đầu những năm 1990 (UNCTAD, 2008), đã đưa ra hai lý giải về mối quan hệ giữa FDI và chất lượng môi trường. Thứ nhất, FDI có thé gây ra giả thuyết nơi ấn giấu 6 nhiễm (Pollution Haven Hypothesis), điều này giải thích rằng các quy định về môi trường của một nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến vị trí của các ngành công nghiệp (Zarsky 1999; Millimet va Roy 2016; Sapkota và Bastola 2017). Chandran và Tang (2013), D°Agostino (2015), Sun và cộng sự (2017), Solarin và cộng sự, (2017), You và Lv (2018) xác nhận giả thuyết này và mô ta rằng các nước phát triển chuyển ngành công nghiệp gây 6 nhiễm của họ sang các nền kinh tế kém phát triển do luật pháp va quy định về môi trường lỏng lẻo của các nước kém phát triển.
Thứ hai, FDI có thé gây ra Pollution Halo Hypothesis ủng hộ việc các doanh nghiệp nước ngoài mang lại công nghệ tiết kiệm năng lượng, tiên tiễn và sạch hơn đưới hình thức dòng vốn FDI cho nền kinh tế tiếp nhận đầu tư dé cải thiện chất lượng môi trường (Zarsky 1999; Wang và cộng sự, 2013). Do đó, dòng vốn FDI được coi là yếu tô quyết định sự suy thoái cũng như cải thiện chat lượng môi trường, mặc dù mối quan hệ của nó với môi trường vẫn còn mơ hồ và cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa (Al-Mulali và Tang 2013). Ali và cộng sự (2020) đã nghiên cứu đánh giá các tác động tương quan động (Dynamic Common Correlated Effects) của độ mở thương mại, FDI và hiệu quả thể chế đối với chất lượng môi trường ở các nước OIC giai đoạn 1990 đến năm 2016. Nhóm tác giả đã sử dụng I1 phương pháp tiếp cận DCCE mới được phát triển dé giải quyết các điểm yếu của các phương pháp trước đó của dit liệu bang, chang hạn như công cụ ước tính PMG, AMG và MG.
Nhóm tác giả cho rằng độ mở thương mại và hiệu quả thé chế có nhiều tác động đáng kề đến “đấu chân sinh thái” hơn so với dòng vốn FDI. Trong nghiên cứu của Ali và cộng sự, dòng vốn FDI và mở cửa thương mại là nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường ở các nước OIC. Ngoài ra, mối quan hệ này cũng phụ thuộc vào các ngoại tác tiêu cực có thé được tạo ra thông qua nhu cầu tự nhiên dưới dạng suy thoái môi trường. Kết quả đưa ra kết luận rằng độ mở thương mại va dòng vốn FDI vào các quốc gia này gây hại cho thiên nhiên và hệ thống sinh thái thay vì tập trung vào việc sử dụng hop lý các nguồn lực theo định hướng công nghệ.
Ali và cộng sự và đưa ra khuyến nghị rang các nước OIC nên chuyền sản xuất từ thâm dụng lao động sang công nghệ sử dụng nhiều vốn vì công nghệ sử dụng nhiều vốn phù hợp hơn với công nghệ sản xuất sạch. Các nhà hoạch định chính sách nên ưu tiên đầu tư xanh, công nghệ xanh và sản xuất carbon thấp. Dé đạt được các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) như sức khỏe tốt hơn, chỉ phí thấp và năng lượng xanh, cơ sở hạ tầng, sự cởi mở, tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm, biến đổi khí hậu, công nghệ xanh là lựa chọn thích hợp; nó sẽ làm giảm “dau chân sinh thái” khi so sánh với công nghệ sản xuất thông thường. Munir va Ameer (2019) đã nghiên cứu những thay đổi về cơ cấu cùng với sự gia tăng thương mại quốc tế và dẫn đến sự thay đổi về tăng trưởng kinh tế, dòng vốn FDI, công nghiệp hóa và điều kiện môi trường của các quốc gia.
Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích tác động phi tuyến dài hạn cũng như ngắn hạn của FDI, tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa đối với suy thoái môi trường (phát thải CO2) ở Pakistan. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng năm của Pakistan từ 1975 đến 2016 và áp dụng mô hình ARDL phi tuyến dé kiểm tra các mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn. Kết quả của mô hình NARDL cho thay mối quan hệ lâu dài tồn tại giữa FDI và phát thải COs, tăng trưởng kinh tế và CO; quá trình công nghiệp hóa và phát thải CO> ở Pakistan. FDI gia tăng có tác động cùng chiều va đáng ké đến phát thải CO2 về lâu dai, trong khi giảm FDI có tác động ngược chiều và không đáng kê đến phát thải CO2.
Những kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của 12 Acharyya (2009). Tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều và đáng kể, trong khi giảm tăng trưởng kinh tế có tác động ngược chiều và đáng kề đến lượng khí thải COa ở Pakistan về lâu dai. He và Richard (2009) cũng đưa ra kết quả tương tự như vậy. Sự gia tăng công nghiệp hóa có tác động cùng chiều va đáng ké đến phát thải CO», trong khi giảm công nghiệp hóa có tác động ngược chiều và không đáng ké đến lượng phát thải CO2.
Những kết quả này ngụ ý rằng sự gia tăng FDI, tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa dẫn đến suy thoái môi trường ở Pakistan. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger cho thấy rằng quan hệ nhân quả một chiều tồn tại từ phát thải CO› đến tổng một phần dương của FDI, tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa và tổng một phần âm của tăng trưởng kinh tế ở Pakistan. Trên cơ sở kết quảmm , nghiên cứu đưa ra các khuyên nghị sau: đầu tiên, chính phủ phải thiết lập các quy định về môi trường cho các ngành công nghiệp. Thứ hai, các trung tâm nghiên cứu và phát trién được yêu cầu ở cấp chính phủ và tư nhân dé kiểm soát ô nhiễm thông qua các công nghệ mới, đồng thời khuyến khích sử dụng chất thải tái chế của ngành công nghiệp như một nguồn năng lượng dẫn đến giảm phát thải.
Cuối cùng, các quy định và hạn chế được yêu cau đối với nhà dau tư nước ngoài dé áp dụng các chính sách thân thiện với môi trường. Abdouli và Hammammi (2017) đã nghiên cứu tác động cua FDI, chất lượng môi trường và nguồn vốn lên tăng trưởng kinh tế của 17 quốc gia MENA trong giai đoạn 1990- 2012 bằng cách sử dụng các phương pháp tiếp cận dữ liệu bảng OLS, Difference-GMM và System-GMM. Nhóm tác giả cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và lượng vốn tăng lên khiến tăng trưởng kinh tế tăng lên nhưng mặt tiêu cực của tăng trưởng kinh tế nâng cao này là nó làm xấu đi chất lượng môi trường và gây suy thoái môi trường ở các nước MENA. Tác động bat lợi của FDI đối với CO> ở các quốc gia thành viên OECD cũng được phân tích (Pazienza, 2019) nhưng đáng chú ý là họ nhận thấy tác động tiêu cực giảm dần khi dòng vốn FDI ngày càng tăng, vốn có thé được sử dụng như một động lực dé cải thiện chất lượng môi trường.
Ở Trung Quốc, quốc gia đứng đầu về loại bỏ COa, lượng phát thai COa công nghiệp trở nên tồi tệ hơn do FDI ở cấp quốc gia và có liên quan tiêu cực ở cấp khu vực. Các nghiên cứu của Bakirtas và Cetin (2017); He (2006); Bae và cộng sự 13 (2017); Hatim và Borhan (2012); Masood và cộng sự (2015) vì tất cả đều đồng ý rằng dòng vốn FDI gây tăng phát thải COa và hủy hoại chất lượng môi trường. Ngược lại, một nghiên cứu của Wang và cộng sự (2013) đã thể hiện tổng hợp những tác động tiêu cực và tích cực của FDI và cho thay rằng dòng vốn FDI nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động và sự đổi mới ở nước tiếp nhận đầu tư, nhưng nó cũng là nguyên nhân dẫn đến gia tăng ty lệ thất nghiệp va 6 nhiễm. Mặt khác, một số nghiên cứu đang lập luận ủng hộ tác động tích cực của phát thải CO› đối với chất lượng môi trường và quan sát thay rang ở các quốc gia khác nhau và trong các kịch bản khác nhau, FDI đã cải thiện chất lượng môi trường bang cách giảm mức phát thải COa (Acharyya, 2009; Kirkulak và cộng sự, 2011; Sapkota, 2017).
Một số nghiên cứu khác được thực hiện nghiên cứu với khu vực nghiên cứu là Trung Quốc (Zhang va Zhou, 2016; Jiao và cộng sự 2018; Liu và cộng sự, 2018) cũng đưa ra kết quả thực nghiệm và báo cáo răng dòng vốn FDI làm giảm phát thải CO› và do đó cải thiện chất lượng môi trường. Kivyiro và Arminen (2014) đã nghiên cứu mối liên hệ nhân quả giữa phát thải carbon dioxide, tiêu thụ năng lượng, tăng trưởng kinh tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở sáu quốc gia SSA, bao gồm Congo, Kenya và Zambia, từ năm 1971-2009. Sử dụng Độ trễ phân tán tự động hoi phuc (ARDL) va kiém dinh quan hé nhan qua Granger dé phan tich, két qua cho thấy dòng vốn FDI có tác động cùng chiều đáng kế đến lượng khí thai carbon ở Zimbabwe và tác động ngược chiều đáng kể ở Nam Phi, Kenya và Cộng hòa Dân chủ Congo, nhưng có tác động không đáng kê đến các quốc gia còn lại. Hơn nữa, tiêu thụ năng lượng được phát hiện có tác động cùng chiều đáng ké đến phát thải COa ở Nam Phi va Zimbabwe và tác động ngược chiều đáng kể ở Cộng hòa Dân chủ Congo với anh hưởng không đáng kế ở các quốc gia còn lại.
Về mối liên hệ nhân quả, kết quả chỉ ra rằng dòng vốn FDI, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế gây ra phát thải CO› ở Kenya, Nam Phi và Cộng hòa Dân chủ Congo. Ojewumi và Akinlo (2017) cũng đã nghiên cứu sự tương tác năng động giữa FDI, tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường, được đo bằng phát thải COa ở 33 quốc gia SSA trong giai đoạn 1980-2013. Sử dụng mô hình Hiệu chỉnh lỗi véc tơ bảng (PVEC) làm phương pháp ước tính, nghiên cứu cho thấy răng cả dòng vốn FDI 14 và tăng trưởng kinh tế đều có tác động cùng chiều đáng kể đến phát thải CO› đối với các nước SSA.