Chương 1. Giới thiệu chung về nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Điểm nổi bật của đề tài; Và kết cấu chung đề tài. Tổng quan lý thuyết: Trình bày các khái niệm; Các lý thuyết liên quan; Tổng quan về các nghiên cứu trước có liên quan. Phƣơng pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp đánh giá tác động; Chiến lược đánh giá tác động chương trình tín dụng nông Việt Nam; Xác định các biến trong mô hình.
Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích các tác động của chương trình chính thức lên thu nhập và chi tiêu hộ gia đình Chương 5. Kết luận và gợi ý chính sách: Đưa ra các kết luận tổng quát và các chính sách giúp nâng cao hiệu quả tín dụng; Nêu ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai. 6 Chƣơng 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về nông hộ Khái niệm hộ: Hộ gia đình là một khái niệm rộng trải khắp các nền văn hóa, và đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất chung. Theo phòng thống kê Liên Hợp Quốc2 hộ gia đình có thể chia thành hộ gia đình một thành viên hoặc hộ gia đình nhiều thành viên: “Hộ gia đình một thành viên được định nghĩa là một sự sắp xếp trong đó một người tự cung cấp thực phẩm và các yếu tố cần thiết khác mà không kết hợp với bất kì người khác.” hay “Hộ gia đình nhiều thành viên được định nghĩa là một nhóm của hai hay nhiều người chung sống với nhau, người lập dự phòng chung cho thực phẩm hoặc yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống.” Theo quan điểm Haviland (2003) thì hộ gia đình được hiểu là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người cùng chia sẻ bữa ăn và không gian sống.
Hộ gia đình bao gồm khái niệm gia đình, tuy nhiên những thành viên trong hộ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng hoặc cả hai. Xét trên quan điểm kinh tế học Sadoulet and de-Janvry (1995) lại cho rằng yếu tố cơ bản để xác định hộ gia đình đó là sự đồng nhất trong quyết định sách lược tạo ra thu nhập và cách sử dụng thu nhập. Như vậy, để phân định hộ gia đình cần phải căn cứ vào các đặc điểm sau: - Hộ là một nhóm người chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc. - Những người này cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà - Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.org/unsd/demographic/sconcerns/fam/fammethods.htm 7 Khái niệm nông hộ: Ellis định nghĩa:“Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” (Ellis, 1993, p. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa3: “Một hộ gia đình được xem là hộ nông nghiệp khi có ít nhất một người trong gia đình đang điều hành một tổ chức (hộ nông dân) có thể là chủ hộ hay thành viên khác hoặc khi nguồn thu nhập chính của hộ đạt được từ hoạt động kinh tế nông nghiệp”. Như vậy, nông hộ là những hộ gia đình tham gia và có thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp độc lập, thu nhập này có thể đến từ chủ hộ hoặc các thành viên khác trong hộ. Thu nhập của nông hộ không chỉ đến từ các hoạt động sản xuất trên đồng ruộng của hộ mà còn bao gồm thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp ngoài nông trại và thu nhập từ các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.2 Khái niệm về tín dụng nông thôn chính thức Quỹ phát triển nông nghiệp thế giới định nghĩa: “Tài chính nông thôn là các giao dịch tài chính liên quan đến các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp diễn ra giữa các hộ gia đình và các thể chế ở khu vực nông thôn” (IFAD, 2009, p.
Tài chính nông thôn bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính cần cho nông dân và gia đình nông thôn, không chỉ là hoạt động tín dụng như: nhận tiền gửi, chuyển tiền, bảo hiểm,. Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay (Lê Thanh Tâm, 2008). Như vậy, tín dụng nông thôn là một bộ phận trong tài chính nông thôn. Nó là cách tiếp cận đơn năng của tài chính nông thôn, cung cấp thị 3 OECD, ngày truy cập 15/10/2014, đường dẫn: http://stats.org/glossary/detail.asp?ID=73 8 trường vốn cung cấp những khoảng vay cho các hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn.
Các đối tượng sử dụng dịch vụ này là các hộ gia đình nông dân, trang trại, kinh doanh nông sản, các doanh nghiệp nông thôn và người lao động không có đất canh tác. Tín dụng nông thôn chính thức được hiểu là các khoản vay được cung cấp bởi các tổ chức tín dụng thuộc khu vực chính thống được Chính phủ ủy quyền và phải tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng (Lê Thanh Tâm, 2008).2 Vai trò của vốn tín dụng trong nông nghiệp 2.1 Vai trò của vốn trong nông nghiệp Mô hình Park S.S (1992) phân chia quá trình phát triển nông nghiệp là ba giai đoạn: sơ khai, đang phát triển và phát triển. Trong mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào khác nhau: - Trong giai đoạn sơ khai, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Sản xuất nông nghiệp theo quy luật năng suất biên giảm dần và phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên như: đất đai, thời tiết, khí hậu và lao động, giai đoạn vốn đầu tư vật chất ít; - Giai đoạn hai, bên cạnh các yếu tố tự nhiên và lao động, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào khu vực công nghiệp như: phân bón, thuốc hóa học.
Năng suất đất tăng lên tương ứng với lượng phân bón và thuốc sử dụng, sau đó năng suất giảm theo quy luật năng suất biên giảm dần. Vốn bắt đầu trở nên cần thiết cho sự phát triển nông nghiệp từ giai đoạn này; - Giai đoạn phát triển nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố công nghệ thâm dụng vốn. Như vậy, có thể nhận thấy vốn là đầu vào quan trọng của sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp càng phát triển thì nhu cầu về vốn cho sản xuất của nông hộ càng tăng nhanh.2 Vai trò của vốn tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong nông nghiệp.
Theo Đinh Phi Hổ (2008) vốn cho khu vực nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp là vốn tự do, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng; Vốn đầu tư của ngân sách là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước; Vốn từ tín dụng nông thôn là nguồn vốn vay đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp; Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment FII) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment FDI). Vai trò bổ sung của vốn từ tín dụng đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà tích lũy vốn cá nhân hộ gia đình, đầu tư của chính phủ hay đầu từ nước ngoài vào ngành nông nghiệp còn rất hạn chế. Tín dụng nông thôn là cần thiết cho phát triển nông nghiệp. Nó không chỉ giải quyết những thất bại thị trường vốn cho khu vực nông thôn, mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng kĩ thuật mới trong nông nghiệp (Atiena, 1997; Barslund và Tarp, 2008; Phạm Bảo Dương, 2013).
Đối với Việt Nam, tiếp cận tín dụng nông nghiệp vai trò đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông thôn, nơi mà sản xuất nông nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với khoảng 80% dân số sống ở khu vực này và nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp (Phạm Bảo Dương, 2013). Tín dụng nông thôn là công cụ phát triển hiệu quả trong chính sách giảm nghèo và cải thiện đời sống hộ gia đình. Nghiên cứu tổng hợp của Morduch and Haley (2001) kết luận rằng các chương trình tín dụng nông thôn có thể giúp hoàn thành 6 trên 7 tiêu chí của mục tiêu thiên niên kỷ. Những nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường (2008) và Phan Đình Khôi (2012) cho Việt Nam cũng đồng quan điểm về vai trò tín dụng giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu hộ gia đình ở nông thôn.
10 Tín dụng giúp gia tăng phúc lợi hộ gia đình nông thôn. Thông qua chức năng giúp làm mịn tiêu dùng, các khoản tín dụng giúp người dân nông thôn có điều kiện cải thiện sức khỏe, gia tăng đầu tư cho giáo dục nhờ đó tạo ra cơ hội kinh tế, thay đổi động lực hộ gia đình (Banerjee and Duflo, 2007; Quibria, 2012). Tín dụng giúp giảm bất bình đẳng về giới. Những nghiên cứu ở Bangladesh cho thấy tín dụng nông thôn giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ và giảm bất bình đẳng giới ở Quốc gia này (Quibria, 2012).3 Vai trò của các ngân hàng trong thị trƣờng tín dụng nông thôn Các tổ chức tín dụng ngân hàng là thành tố giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn (Lê Thanh Tâm, 2008).
Về mặt tài chính các tổ chức thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ, thực hiện các chức năng quan trọng là: huy động vốn; tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư và tạo điều kiện thị trường thuận lợi cho thương mại và dịch vụ phát triển, nhờ đó giúp giảm nghèo và cải thiện thu nhập hộ gia đình. Về khía cạnh xã hội, các tổ chức ngân hàng tạo ra cơ hội cho dân chúng nông thôn – nhất là những người nghèo nhất tiếp cận được với dịch vụ tài chính, thông qua đó tăng cường năng lực xã hội của họ. Các tổ chức ngân hàng nông thôn có thể tác động đến thu nhập hộ gia đình bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.