Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn. Tổng quan lý thuyết nghiên cứu.
Trình bày lý thuyết về tín dụng cho khu vực nông thôn; quan hệ giữa tín dụng nông thôn và thu nhập của hộ nông dân; các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ trồng lúa; các nghiên cứu liên quan. Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu; các phương pháp đánh giá tác động của tiếp cận tín dụng đến thu nhập hộ trồng lúa, sử dụng mô hình hồi quy (OLS), phương pháp kiểm định khác biệt trong khác biệt (DID); kết hợp phương pháp kiểm định DID và hồi quy OLS; mô hình nghiên cứu đề xuất; dữ liệu nghiên cứu; phương pháp phân tích và xử lý số liệu; quy trình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu.
Trình bày kết quả từ thống kê mô tả; kết quả từ phân tích hồi quy OLS và kiểm định DID. Kết luận và kiến nghị. Trình bày những kết quả mà đề tài nghiên cứu đạt được; các kiến nghị góp phần nâng cao tác động tích cực của tiếp cận TDCT từ NHNN&PTNT đối với thu nhập hộ trồng lúa tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.
LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG CHO KHU VỰC NÔNG THÔN 2. Một số khái niệm 2. Nông hộ Theo Ellis (1993) thì “Nông hộ là các hộ nông dân thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”. Theo OECD (2014) định nghĩa: “Một hộ gia đình được xem là hộ nông nghiệp khi có ít nhất một người trong gia đình đang điều hành một tổ chức (hộ nông dân) có thể là chủ hộ hay thành viên khác hoặc khi nguồn thu nhập chính của hộ đạt được từ hoạt động kinh tế nông nghiệp”.
Tín dụng nông thôn Theo Quỹ phát triển nông nghiệp thế giới (IFAD, 2009) định nghĩa: “Tài chính nông thôn là các giao dịch tài chính liên quan đến hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp diễn ra giữa các hộ gia đình và các thể chế ở khu vực nông thôn”. Như vậy, tài chính nông thôn bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính cần cho nông dân và gia đình nông thôn, không chỉ là hoạt động tín dụng như: nhận tiền gửi, chuyển tiền, bảo hiểm. Lê Thị Thanh Tâm (2008) cho rằng: “Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay”. Như vậy, tín dụng nông thôn là một bộ phận tài chính nông thôn.
Nó là cách tiếp cận đơn năng của tài chính nông thôn, cung cấp thị trường vốn cung cấp những khoảng vay cho các hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn. Các đối tượng sử dụng dịch vụ này là các hộ gia đình nông dân, trang trại, kinh doanh nông sản, các doanh nghiệp nông thôn và người lao động không có đất canh tác. Thu nhập và thu nhập của hộ gia đình Theo Tổng Cục Thống kê (2010): Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm: (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền từ tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Vai trò của tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là nguồn bổ sung vốn quan trọng trong nông nghiệp. Theo Đinh Phi Hổ (2008), vốn cho khu vực nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn vốn sau: Vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp là vốn tự do, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng. Vốn đầu tư của ngân sách là vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của nhà nước.
Vốn từ tín dụng nông thôn là nguồn vốn vay đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại và các doanh nghiệp nông nghiệp. Nguồn vốn nước ngoài, bao gồm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể nói, vai trò bổ sung của vốn từ tín dụng đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia, nhất là tại quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi mà tích lũy vốn cá nhân hộ gia đình, đầu tư của Chính phủ hay đầu tư từ nước ngoài vào ngành nông nghiệp rất hạn chế. 123doc 7 Tín dụng nông thôn cần thiết cho phát triển nông nghiệp.
Nó không chỉ giải quyết những thất bại thị trường vốn cho khu vực nông thôn, mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới trong nông nghiệp (Atieno, 1997). Đối với Việt Nam, tiếp cận tín dụng nông nghiệp có vai trò đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông thôn, nơi mà sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, với khoảng 80% dân số sống ở khu vực này và nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp (Duong, 2013). Tín dụng nông thôn là công cụ phát triển hiệu quả trong chính sách giảm nghèo và cải thiện đời sống hộ gia đình. Nghiên cứu tổng hợp của Morduch and Haley (2001) kết luận rằng các chương trình tín dụng nông thôn có thể giúp hoàn thành 6 trên 7 tiêu chí của mục tiêu thiên niên kỷ.
Tín dụng giúp gia tăng phúc lợi hộ gia đình nông thôn. Thông qua chức năng làm mịn tiêu dùng, các khoản tín dụng giúp người dân nông thôn có điều kiện cải thiện sức khỏe, gia tăng đầu tư cho giáo dục, nhờ đó tạo ra cơ hội kinh tế, thay đổi động lực hộ gia đình (Banerjee and Duflo, 2007). Tín dụng giúp giảm bất bình đẳng về giới. Nghiên cứu ở Bangladesh cho thấy tín dụng nông thôn giúp nâng cao vị thế của người phụ nữ và giảm bất bình đẳng giới ở quốc gia này (Quibria, 2012).
Vai trò của các ngân hàng trong thị trường tín dụng nông thôn Các tổ chức tín dụng ngân hàng là thành tố giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội khu vực nông thôn (Lê Thị Thanh Tâm, 2008). Về mặt tài chính, các tổ chức thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ, thực hiện các chức năng quan trọng như huy động vốn; tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tư và tạo điều kiện thị trường thuận lợi cho thương mại và dịch vụ phát triển, nhờ đó giúp giảm nghèo và cải thiện thu nhập hộ gia đình. Về khía cạnh xã hội, các tổ chức ngân hàng tạo ra cơ hội cho dân chúng nông thôn, nhất là những người nghèo nhất tiếp cận được với dịch vụ tài chính, thông qua đó tăng cường năng lực xã hội của họ. 123doc 8 Các tổ chức ngân hàng nông thôn có thể tác động đến thu nhập hộ gia đình bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.
Thông qua cung cấp vốn cho các tổ chức, đơn vị sản xuất kinh doanh ở khu vực nông nghiệp, các ngân hàng gián tiếp tạo ra nhu cầu đầu vào cho các sản phẩm nông nghiệp, các dịch vụ liên quan và phát triển thị trường việc làm ở nông thôn. Hay thông qua chức năng tài trợ vốn, các định chế ngân hàng trực tiếp gia tăng nguồn lực hộ gia đình, hỗ trợ thanh khoản, giúp hộ gia đình có cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất, nhờ đó mà giảm nghèo và cải thiện thu nhập cho hộ dân nông thôn. Các dịch vụ tài chính khu vực ngân hàng cung cấp cho nông hộ một cơ chế dự phòng rủi ro. Sản xuất nông nghiệp dễ bị tổn thương bởi các yếu tố ngoại sinh, vì vậy thu nhập trong nông nghiệp thường có tính bất định.
Khi có các biến động về kinh tế gia đình, hộ gia đình có thể đối phó bằng cách sử dụng các khoản tiết kiệm đã gởi hoặc vay vốn từ ngân hàng, thay vì phải bán các tài sản của hộ, gây ảnh hưởng xấu đến khả năng tạo ra thu nhập trong tương lai của hộ. Sử dụng các dịch vụ tài chính đảm bảo cho hộ gia đình tiếp tục tăng thu nhập và gây dựng tài sản. QUAN HỆ GIỮA TÍN DỤNG NÔNG THÔN VÀ THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN Tín dụng nông thôn cần thiết cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là đối với hộ trồng lúa. Nó không chỉ giải quyết những thất bại về thị trường vốn cho khu vực nông thôn mà còn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới trong nông nghiệp.
Tác giả Đinh Phi Hổ (2008), chỉ ra rằng các chương trình tín dụng ưu đãi từ những năm 1990 cho nông nghiệp và nông thôn ra đời và phát triển mạnh mẽ. Cùng thời điểm này, thị trường tín dụng cũng ghi nhận sự xuất hiện của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) tham gia cung cấp vốn dưới hình thức tín dụng vi mô cho khu vực nông thôn. Cho đến nay, thị trường tín dụng nông thôn đã có bước phát triển mạnh mẽ với sự tham gia đa dạng của các định chế tài chính. Theo Morduch and Haley (2001), tín dụng nông thôn là công cụ phát triển hiệu quả trong chính sách giảm nghèo và cải thiện đời sống hộ gia đình.
123doc 9 Theo Barslund and Tarp (2008), TDCT có vai trò quan trọng trong thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hầu hết các khoản vay chính thức được sử dụng chủ yếu cho mục đích sản xuất nông nghiệp.