CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN 1. Tác động tích cực Lợi ích lớn nhất của thuỷ điện là giá thành nhiên liệu, đây là một nguồn năng lượng tái tạo được tính bền vững. Do không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, các nhà máy thủy điện không phát thải ra các chất khí, chất rắn gây ô nhiễm môi trường, không tiêu thụ ôxygen, không phát sinh nhiệt, không thải ra các khí gây hiệu ứng nhà kính.
Do đó, có thể coi đây là dạng năng lượng sạch. Những hồ chứa dung tích lớn được xây dựng cùng với các nhà máy thuỷ điện sẽ tích nước vào các tháng mùa mưa để có thể dùng để phát điện trong mùa khô. Như vậy, thủy điện giúp đồng bằng hạ du chống lũ về mùa mưa và hạn hán vào mùa khô; cải thiện dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn [52]. Tác động tiêu cực Việc xây dựng các hồ chứa làm mit đi một diện tích lớn đất đai và thông thường có cả đất rừng.
Theo tính toán, để có I MW điện phải mắt ít nhất 7,5 - 10 ha rừng. Những nhà môi trường đã bày tỏ lo ngại rằng các dự án nhà máy thuỷ điện lớn có thể làm thay đổi dòng chảy về cả số lượng và chất lượng, phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh. Thứ nhất, các nghiên cứu đã cho thấy rằng đập sẽ ngăn cản những con đường di cư của loài cá, biến những đoạn sông nước chảy xiết thành những cái ao tù dong và gây nguy hiểm cho các khu vực cá đẻ và ấp trứng. đập nước dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của Bắc Mỹ đã làm giảm lượng cá hồi vì chúng ngăn cản đường bơi ngược dòng của cá hồi để đẻ trứng, thậm chí ngay khi đa số các đập đó đã lắp đặt thang lên cho cá.
Cá hồi non cũng bị ngăn cản khi chúng bơi ra biển bởi vì nước ngoài công bố như Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanvir (1965), M. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu cá được đây mạnh về phía Nam. Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta coi trọng việc nghiên cứu và phát triển tiềm năng của các thủy vực nội địa. Các nghiên cứu không chỉ tập trung vào thành phần loài mà còn đánh giá sự đa dạng, thích nghỉ của các môi trường thủy vực khác nhau Năm 1978, Mai Đình Yên đã công bố “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam”, thống kê danh mục, mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại đặc điểm phân bó và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá ở miền Bắc nước ta [41].
Đến năm 1992, Mai Đình Yên cùng với các cộng sự céng bé “Dinh loại các loài cá nước ngọt Nam b; mô tả, định loại 25S loài cá ở Nam bộ. Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương đã công bồ “Định loài cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài [18]. Đây là các công trình tổng hợp đầy đủ nhất về hai khu hệ cá miền Bac và miền Nam nước ta trong thời kỳ này. Từ năm 1981 đến năm 1994, một số kết quả nghiên cứu về khu hệ cá đã được công bố, tiêu biểu là Nguyễn Hữu Dực (1982): “Thành phần loài cá sông Hương”, đã thống kê được 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam, đã thống kê được 157 loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Duc (1991): Thành phần các loài cá sông Thu Bồn gồm 5§ loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài [42].
10 Năm 1994, Vũ Trung Tạng đã tiến hành đánh giá thành phần loài cá các cửa sông Việt Nam “Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” với S80 loài thuộc 110 họ và 26 bộ. Đồng thời, ông chia làm 4 nhóm sinh thái có nguồn gốc khác nhau: cá biển, cá cửa sông, cá nước ngọt và cá di cư [37]. 'Về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật của cá nước ngọt Việt Nam có các tác giả Mai Đình Yên (1973), Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Nguyễn Văn Hảo (1993, 1998) và Nguyễn Hữu Dực (1995). Các tác giả cho rằng khu hệ cá nước ngọt Việt Nam có thể xếp vào vùng Đông Dương với 2 vùng phụ cận và 11 khu địa lý như sau [18]: ~ Vùng phụ Nam Trung Hoa có 5 khu thuộc Việt Nam là Cao Lạng, Việt Bắc, Tây Bắc, miền núi Bắc Trung bộ, đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ.
~ Vùng phụ Đông Dương có 4 khu thuộc Việt Nam là Tây Nguyên, hạ lưu sông Mêkông, đồng bằng Nam bộ và đảo Phú Quốc. - Ngoài ra, còn hai khu mang tính chất chuyển tiếp giữa hai vùng phụ cận trên là khu thứ 10: Trung và Nam Trung bộ mang tính chất chuyển tiếp theo hướng Bắc Nam và khu thứ 11: Điện Biên Phủ mang tính chất chuyển tiếp theo hướng Tây Bắc. Nhìn chung, những nghiên cứu toàn diện về cá trong giai đoạn này được đẩy mạnh và có những bước tiến vững chắc. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu về cá chỉ tập trung ở hệ sinh thái của các thủy vực nội địa phía Bắc và phía Nam, nơi gần những trung tâm nghiên cứu Quốc gia về thủy sản.
Các vùng biển và các thủy vực nội địa ở miền Trung vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu. Từ 1995 đến 2000, nghiên cứu cá được quan tâm và chú trọng. Bên cạnh các thủy vực miền Bắc và miền Nam, các thủy vực miền Trung và 1I Tây Nguyên cũng được tập trung nghiên cứu, tiêu biểu trong giai đoạn này là: Võ Văn Phú (1995) “Thành phần loài của khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên Huế” với 163 loài cá thuộc 95 giống, 60 họ và 17 bộ, trong. đó có 23 loài cá kinh tế [25]; Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thị Thu Hè (1997) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắk Lắk) [38]; Nguyễn Trường Khoa, Võ Văn Phú (2002) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” với 83 loài thuộc 56 giống, 36 họ và 12 bộ [22].
Ở miền Trung công tác nghiên cứu phát triển mạnh mẽ từ năm 2001 đến nay, công tác nghiên cứu được tập trung chú trọng. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu: '“Thành phần loài cá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế sau trận lũ lịch sử 1999” của Võ Văn Phú (2001) với 171 loài [26]; “Đa dạng về thành phần loài cá Đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) [27]; “Dẫn liệu bước đầu về cá sông Chu thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa” của Nguyễn Hữu Dực, Dương Quang Ngọc (2004) với 94 loài, 68 giống, 24 họ và 9 bộ [14]. Từ năm 2001 - 2005, Nguyễn Văn Hảo đã xuất bản cuốn sách “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mô tả các loài nước ngọt điển hình và một số đại điện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng cửa sông, đầm phá ven biển. Theo công bố này, tác giả đã thống kê được 1.027 loài và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22 bộ.
Đây được xem là bộ sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và chỉ tiết nhất Việt Nam hiện nay [18]. Nam 2005, Võ Văn Phú và cộng sự đã công bố danh lục thành phần loài cá Khu bảo tồn thiên nhiên Đăkrông (Quảng Trị) với 100 loài thuộc 65 13 mà còn nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái, sinh lý khác nhau. Ngoài ra, việc nghiên cứu đánh giá tác động của môi trường đến đa dạng và phân bố của cá cũng được đây mạnh trước thực trạng môi trường ngày càng ô nhiễm như hiện nay. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam Nhìn chung, những nghiên cứu cá ở Việt Nam đang được đây mạnh trong những năm qua.
Tuy nhiên, ở Quảng Nam những nghiên cứu về cá chỉ mới tập trung chủ yếu ở các sông suối lớn của một số nhà khoa học tiêu biểu như Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực đã tiến hành nghiên cứu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ vào năm 1991 [42] Trong đó sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam là một trong số 7 vực nước được điều tra nghiên cứu về thành phần loài, sinh thái học, các loài cá kinh tế và nghề cá. Đến năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực tiếp tục công bố thành phần loài cá sông Thu Bồn có tổng số 58 loài và họ cho rằng. thành phần loài cá có sự giao lưu của hai phức hệ cá phía Bắc và phía Nam. Năm 2004, Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú công bó thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam gồm 71 loài nằm trong 49 giống, thuộc 19 họ của9 bộ khác nhau [1] Năm 2005, Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Ngọc Hoàng Tân đã công bó thành phần loài cá ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 83 loài nằm trong 59 giống, 34 họ, thuộc 10 bộ khác nhau, trong đó bộ cá 'Vược (Percifomes) chiếm ưu thế về mặt họ, giống và loài [28] Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) công bố thành phần loài cá trong hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn gồm 107 loài cá, thuộc 31 họ, 9 giống.
Trong đó có 8 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam. Ngoài ra hai tác giả còn tiến hành điều tra tình trạng nguồn lợi cá 14 của hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi cá đã giảm 50%. so với 10 - 15 năm về trước [35].
Gần đây nhất có công trình nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh, Trần Thị Thanh Thu (2014), đã công bố thành phần loài cá ở sông Đầm, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam với 91 loài, thuộc 66 giống nằm trong 32 họ của 13 bộ [4]. Đây là các công trình nghiên cứu về cá ở Quảng Nam mà chúng tôi biết được từ trước đến nay. Có thể nói, nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung, về cá nói riêng ở các hệ thống sông tỉnh Quảng Nam còn ít và chưa có hệ thống. Đặc biệt các nghiên cứu về biến động thành phần loài cá do xây dựng hồ chứa hay do tác động môi trường, hoạt động đánh bắt chưa được chú trọng.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên a.