Chương I: Giới thiệu chung Chương II: Tổng quan lý thuyết Chương III: Thực trạng vấn đề ô nhiểm môi trường và thị trường quyền gây ô nhiễm tại Việt Nam Chương IV: Phân tích tác động của thị trường quyền gây ô nhiễm trong việc xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam Chương V: Giải pháp tài chính nhằm phát triển thị trường quyền gây ô nhiễm ở Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. NGOẠI TÁC TIÊU CỰC ĐỐI VỚI MÔI TRƢỜNG: Ngoại tác tiêu cực đối với môi trường do các doanh nghiệp hoạt động sản xuất gây ra được minh họa thông qua hình 2.1: P H MSC I E MPC G F MEC B MR O Q0 Q1 Q Hình 2. Đồ thị minh hoạ ngoại tác tiêu cực Phần lớn các hoạt động sản xuất gây ngoại ứng tiêu cực đến môi trường thông qua việc thải các chất thải gây ô nhiễm hoặc còn được hiểu là việc tạo ra các sản phẩm phụ gây ô nhiễm môi trường, làm cho môi trường trở thành độc hại, mất cân bằng sinh thái trong khu vực hoạt động. Đối với các doanh nghiệp gây ngoại ứng tiêu cực thì đường chi phí biên tư nhân (MPC) luôn nằm dưới đường chi phí biên của xã hội (MSC).
Độ chênh lệch giữa hai loại chi phí này là chi phí ngoại tác biên (MEC). Điều đó có nghĩa là: MSC = MPC + MEC = dPC/dQ + dEC/dQ = P Trong đó: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 P: giá cả thị trường; PC: chi phí tư nhân; dPC/dQ: đạo hàm PC theo sản lượng Q EC: chi phí ngoại tác tiêu cực; dEC/dQ: đạo hàm EC theo sản lượng Q Với MR là đường doanh thu biên của doanh nghiệp, S là diện tích các hình, ta có: 1. Điểm E là điểm cân bằng với hiệu quả xã hội, Q0 là sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích xã hội, khi đó: Tổng chi phí xã hội (TC0) là: TC0 = MSC.Q0 = S(OBEQ0) Tổng doanh thu (TR0) là: TR0 = MR.Q0 = S(OIEQ0) Tổng lợi ích đạt được của xã hội là: TB0 = TR0 – TC0 = MR. Điểm F là điểm cân bằng với hiệu quả của doanh nghiệp, Q1 là sản lượng đảm bảo tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp, khi đó: Tổng chi phí xã hội (TC1) là: TC1 = MSC.Q1 = S(OBHQ1) Tổng doanh thu (TR1) là: TR1 = MR.Q1 = S(OIEFQ1) Tổng lợi ích đạt được của xã hội (TB1) là: TB1 = TR1 – TC1 = MR.Q1 = S(IEB) –S(EFH) So sánh lợi ích tại điểm F và tại điểm E ta có: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 TB1 – TB0 = S(IEB) – S(EFH) – S(IEB) = - S(EFH) < 0 => TB1 < TB0 Như vậy khi tăng sản lượng từ Q0 đến Q1, lợi ích xã hội bị giảm xuống bằng diện tích tam giác EFH hay nói cách khác tổn thất xã hội do doanh nghiệp gây ra chính là độ lớn hình EFH khi doanh nghiệp vẫn muốn sản xuất mức sản lượng tại Q1.
Điều đó có nghĩa là sản lượng càng tăng thì độ lớn hình EFH càng lớn, tổn thất xã hội càng lớn; đồng thời, nếu chi phí biên tư nhân (MPC) càng thấp thì diện tích tam giác EFH cũng mở rộng và do đó tổn thất xã hội cũng càng tăng. Từ đó cho thấy tổn thất mà xã hội phải gánh chịu lại chính là phần lợi nhuận tăng thêm của doanh nghiệp. Đáng lý ra doanh nghiệp phải gánh chịu toàn bộ chi phí khi gia tăng sản lượng nhưng lại đẩy một phần chi phí của mình cho xã hội và đây cũng chính là nguyên nhân khuyến khích các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường hơn. Nói cách khác để gia tăng phúc lợi xã hội cần áp dụng các biện pháp kéo giảm sản lượng của doanh nghiệp từ Q1 về Q0.
Mức ô nhiễm tối ƣu đạt đƣợc cân bằng xã hội: Tại mức sản lượng cân bằng, đường chi phí biên (MC), doanh thu biên (MR) và đường lợi ích biên tư nhân (MNPB) như trong hình 2.2: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 P MC M N MR = P (hình 2.2a) O Q1 Q P MNPB = P – MC (hình 2.2: Đường lợi ích biên tư nhân MNPB Theo lý thuyết xác định lợi ích biên tư nhân, ta có: MNPB = MR - MC Giả sử nghiên cứu trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì: MR = P Nên: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 MNPB = P - MC Khi chưa tính đến chi phí giảm thải, để tối đa hoá lợi nhuận, người sản xuất sẽ sản xuất tối đa tại Q1 vì ở đó tổng lợi nhuận lớn nhất chính là toàn bộ diện tích nằm dưới đường MNPB. Hoạt động sản xuất hàng hoá sẽ tạo ra các sản phẩm phụ gây ô nhiễm môi trường, vì vậy khi có sản xuất thì sẽ có ô nhiễm, khi sản xuất đạt mức cân bằng Q 0 thì mức ô nhiễm tối ưu đạt được cân bằng xã hội sẽ là W0 như hình 2.3b: P H MSC I E MPC G F MEC B MR O Q0 Q1 Q O W0 W1 Lượng thải (W) Hình 2.3a: Mức ô nhiễm tối ưu đạt được cân bằng xã hội đối với một ngành Bên cạnh đó, ta có: MSC = MPC + MEC Áp dụng điều kiện cân bằng xã hội: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 MSC = MB tại mức sản lượng Q0 tương ứng với mức ô nhiễm W0 P A MNPB = P - MC MEC B O Q Q 0 O W0 Lượng thải (W) Hình 2.3b:Mức ô nhiễm tối ưu đạt được cân bằng xã hội đối với một doanh nghiệp Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, ta có điều kiện tối đa hoá lợi ích xã hội: P = MSC Suy ra: MNPB = P - MPC = MPC + MEC - MPC = MEC Từ công thức trên cho thấy nền kinh tế sẽ đạt được hiệu quả Pareto khi có một sự đánh đổi giữa sản xuất hàng hoá và việc ô nhiễm môi trường theo quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Đồng thời giá cả hàng hóa đã phản ánh đủ chi phí xã hội của việc sản xuất, bao gồm cả chi phí tư nhân và chi phí ngoại tác. Vì MNPB = MEC nên tại mức Q0 và W0 lợi nhuận của hoạt động sản xuất cũng đạt được tối đa theo quan điểm xã hội.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Định lý Coase: Định lý Coase phát biểu rằng: Khi các bên người gây ô nhiễm và người gánh chịu hậu quả ô nhiễm có thể mặc cả mà không phải chi phí gì thêm và để làm cho cả hai bên cùng có lợi, cơ chế thị trường sẽ làm cho hoạt động chống ô nhiễm trở nên có hiệu quả bất kể quyền tài sản được ấn định như thế nào. Xét về mặt kinh tế, phân tích theo mô hình lý tưởng của định lý Coase là một ý tưởng tốt, nó thể hiện được quy luật cơ bản của kinh tế thị trường là quy luật cung cầu và thể hiện tính hiệu quả Pareto trong hoạt động kinh tế. Tuy vậy, tính khả thi trong thực tiễn không cao vì 4 lý do cơ bản sau đây: - Việc vận dụng mô hình mặc cả ô nhiễm chỉ đúng trong trường hợp thị trường cạnh tranh, đối với hoàn cảnh thị trường không cạnh tranh thì không thể thực hiện được.
- Thông thường các quyền tài sản được ấn định không rõ ràng đặc biệt là đối với những loại tài sản sở hữu chung. - Việc mặc cả thành công hay tan vỡ phụ thuộc rất lớn vào việc thông tin có chính xác không, việc giám sát có tốn kém không. Khi mặc cả thì cả hai bên đều tin rằng mình có thể và phải được lợi nhiều hơn do đó mỗi bên đều giữ thái độ cứng rắn khi mặc cả hoặc mỗi bên đều có thiện chí nhưng đều không xác định được nên cứng rắn đến mức nào hoặc là không xác định được phần lợi của mình là bao nhiêu nên đưa cao để khỏi bị thiệt hại và chắc rằng bên kia phải nhượng bộ. Thái độ đó gọi là thái độ chiến lược và là nguyên nhân của mọi sự thất bại khi mặc cả.
- Chi phí giao dịch thường rất lớn và thường đổ lên vai người không có quyền tài sản. Trong trường hợp mặc cả tốn kém nhiều về thời gian và chi phí, có khi phần tốn kém còn lớn hơn phần lợi ích nhận được thì quá trình mặc cả ít khi xảy ra. Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 trường hợp các ngoại tác là tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng phải giải quyết thì buộc phải nhờ đến vai trò của chính phủ. KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN Ô NHIỄM VÀ MUA BÁN QUYỀN Ô NHIỄM: Năm 1968, nhà kinh tế học người Canađa là Dales lần đầu tiên đưa ra đề nghị về một cơ chế trong đó một số lượng nhất định "quyền gây ô nhiễm" (bằng với mức ô nhiễm mà xã hội mong muốn) có thể được mua đi bán lại giữa những người gây ô nhiễm (John Dales, 1968).
Quyền gây ô nhiễm là loại giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép doanh nghiệp được thải một lượng chất thải nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó phân bổ cho các doanh nghiệp có sản xuất ra các sản phẩm phụ gây ô nhiễm môi trường bằng cách phát hành những giấy phép thải gọi là quyền gây ô nhiễm và chính thức công nhận quyền được thải một lượng chất gây ô nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn xác định cho các doanh nghiệp. Khi có mức phân bổ quyền gây ô nhiễm ban đầu, doanh nghiệp gây ô nhiễm có quyền mua và bán quyền gây ô nhiễm, trong đó người bán là các doanh nghiệp sở hữu quyền gây ô nhiễm và người mua là các doanh nghiệp cần quyền gây ô nhiễm để xả các loại chất thải. Doanh nghiệp chỉ được phép thải trong số lượng giấy phép mình có.
Nhưng vì có thể mua bán trao đổi quyền nên doanh nghiệp nào muốn thải nhiều hơn sẽ phải mua thêm quyền từ những doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng. Ngược lại doanh nghiệp nào có khả năng giảm thải tốt có thừa ra một số quyền và được quyền bán số quyền thừa đó. Họ có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất như mua quyền gây ô nhiễm để được phép thải LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 chất gây ô nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư xử lý ô nhiễm để đạt tiêu chuẩn cho phép.