Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này tác giả sẽ cho thấy lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Chương 2: Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động dai dẳng của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn. Trong chương này, tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu trước đây về tác động dai dẳng của thời điểm thị trường lên CTV. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu của đề tài, tác giả trình bày phương pháp sử dụng để thực hiện bài nghiên cứu.
Cách xây dựng biến và nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu. Chương 4: Tác động dai dẳng của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn của các công ty niêm yết ở Việt Nam, thông qua kết quả hồi quy tác giả phân tích so sánh kết quả nghiên cứu của tác giả với những nghiên cứu trước đây trên thế giới về tác động của thời điểm thị trường lên CTV và lần lượt trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra ở phần mục tiêu nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, tác giả trình bày một cách ngắn gọn những gì tác giả phát hiện thông qua nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÁC ĐỘNG DAI DẲNG CỦA THỜI ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LÊN CẤU TRÚC VỐN 2.
Nền tảng lý thuyết Lý thuyết cấu trúc vốn của M&M Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu từ công trình nghiên cứu của Franco Modigliani và Merton Miller (thường gọi tắt là thuyết M&M). Theo lý thuyết của M&M, trong trường hợp không có thuế và giả định thị trường vốn là hoàn hảo thì giá trị thị trường của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ. Điều này có nghĩa, doanh nghiệp có sử dụng nợ hay không sử dụng nợ không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, lý thuyết M&M cho thấy trong trường hợp có tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp, khi sử dụng nợ vay doanh nghiệp nhận được khoản sinh lời từ tấm chắn của thuế thu nhập từ đó có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi kế thừa định đề I của M&M về lợi ích tấm chắn thuế và bổ sung khái niệm chi phí kiệt quệ tài chính làm sụt giảm giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi phát biểu rằng giá trị doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy tài chính bằng giá trị doanh nghiệp trong trường hợp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần cộng với hiện giá của tấm chắn thuế (M&M) và trừ cho hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giá trị của doanh nghiệp có sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp trong trường hợp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần cộng với hiện giá của tấm chắn thuế trừ cho hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính.
Giám đốc tài chính của doanh nghiệp nên chọn tỷ lệ nợ nào tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp Thuyết đánh đổi đưa ra mức độ nợ tối ưu để cân bằng giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Myers và Majluf (1984) khẳng định doanh nghiệp ưu tiên tài trợ từ nguồn nội bộ, kế đó là đi vay và cuối cùng mới là phát hành vốn cổ phần. Lý thuyết trật tự phân hạng tranh luận do ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng mà doanh nghiệp phải tốn các chi phí kiểm toán và các chi phí thuyết phục nhà đầu tư. Từ đó, doanh nghiệp sử dụng nguồn lợi nhuận giữ lại để không phải tốn kém chi phí.
Đối với vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nợ, chi phí sử dụng vốn ở mức vừa phải giữa chi phí sử dụng vốn do phát hành vốn cổ phần và chi phí sử dụng vốn do tài trợ nội bộ, vì vậy doanh nghiệp ưu tiên trước hết là tài trợ nội bộ tức tài trợ từ lợi nhuận giữ lại, kế đến là tài trợ nợ và cuối cùng mới phát hành vốn cổ phần. Như vậy, chi phí sử dụng vốn của các nguồn tài trợ giúp giải thích hàm ý của thuyết trật tự phân hạng. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, không có một cấu trúc vốn gồm nợ và vốn cổ phần mục tiêu nào được xác định rõ. Lý thuyết trật tự phân hạng giúp giải thích các doanh nghiệp có khả năng sinh lời nhiều thường có tỷ lệ nợ vay thấp hơn, là điều mà lý thuyết đánh đổi không giải thích được.
Các doanh nghiệp ít có khả năng sinh lợi thì phát hành nợ vì không đủ lợi nhuận giữ lại làm nguồn tài trợ nội bộ, và chi phí phát hành nợ ít hơn chi phí phát hành vốn cổ phần. Về hạn chế, lý thuyết trật tự phân hạng kém thành công trong giải thích các khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa các ngành. Lý thuyết chi phí đại diện Thuyết chi phí đại diện tập trung vào các chi phí tạo ra do mâu thuẫn giữa cổ đông, nhà quản lý và trái chủ. Theo Jensen và Meckling (1976), cấu trúc vốn tối ưu được xác định bởi chi phí đại diện, là kết quả đánh đổi giữa quyền lợi thể hiện quyền quản lý và chi phí thể hiện ở rủi ro của các cổ đông trong việc tài trợ nợ.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ các nhà quản lý doanh nghiệp thường là những chủ sở hữu, vì vậy vấn đề chi phí đại diện ít xảy ra. Chi phí đại diện càng giảm thì doanh nghiệp càng ít sử dụng nợ trong cấu trúc vốn. Do đó, các công ty có quy mô nhỏ thường sử dụng vốn cổ phần nhiều hơn sử dụng đòn bẩy. Ngược lại, theo lý thuyết chi phí đại diện, các công ty có quy mô lớn, sử dụng nhiều nợ hơn vì các điều khoản trong hợp đồng vay nợ giúp kiểm soát được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phần nào hành vi của các nhà quản lý không hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Lý thuyết tín hiệu Việc lựa chọn cấu trúc vốn có thể đưa ra những tín hiệu cho nhà đầu tư bên ngoài. Nhà quản lý biết rõ hơn nhà đầu tư bên ngoài về triển vọng của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp được dự báo sẽ có triển vọng hoạt động tốt, nhà quản lý không muốn chia sẻ lợi nhuận với những người chủ sở hữu mới. Ngược lại, khi doanh nghiệp dự báo có triển vọng không tốt, nhà quản lý mong muốn chia sẻ những rủi ro này với những người chủ mới của doanh nghiệp.
Do đó, khi một doanh nghiệp công bố phát hành thêm chứng khoán mới có thể coi là đang cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về tương lai của doanh nghiệp. Các nghiên cứu về thay đổi cấu trúc vốn đều cho rằng các cung ứng chứng khoán mới đưa tới giá chứng khoán giảm. Việc mua lại cổ phần thường sẽ đưa tới các lợi nhuận được công bố dương từ cổ phần thường của doanh nghiệp. Các hành động làm tăng đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần dương và các hành động làm giảm đòn bẩy tài chính thường gắn với thu nhập cổ phần âm.
Lý thuyết thời điểm thị trường Công trình nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002) đã đưa ra một hướng nghiên cứu mới về cấu trúc vốn. Các tác giả nhận thấy rằng thật khó để giải thích quyết định tài trợ dựa trên những học thuyết truyền thống như thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng. Theo thuyết đánh đổi, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên việc đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Còn theo thuyết trật tự phận hạng của Myers và Majluf (1984) doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn nội bộ, kế đó là đi vay và cuối cùng mới là phát hành vốn cổ phần.
Hai thuyết này không thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 giải thích được cấu trúc vốn trong thực tế của các doanh nghiệp. Chính vì thế, kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Baker và Wurgler vào năm 2002 đã rọi một ánh sáng mới vào cấu trúc vốn đó là việc giải thích sự thay đổi của cấu trúc vốn dựa trên lý thuyết thời điểm thị trường. Lý thuyết này phát biểu rằng cấu trúc vốn được xem như là kết quả tích lũy của những nỗ lực trong quá khứ để định thời điểm thị trường vốn. Những công ty sẽ quyết định phát hành vốn cổ phần khi cổ phiếu được định giá cao hơn so với giá trị sổ sách và thời điểm quá khứ và mua lại cổ phiếu trong trường hợp cổ phiếu được định giá thấp hơn.
Hay nói cách khác, các công ty phát hành vốn cổ phần khi chi phí sử dụng vốn thấp và mua lại cổ phiếu khi chi phí sử dụng vốn cao. Khi thị trường nợ và vốn cổ phần thuận lợi, các nhà quản lý sẽ tăng quỹ mặc dù công ty hiện không có nhu cầu sử dụng thông qua việc đẩy mạnh hoạt động phát hành. Nghĩa là, mặc dù ở thời điểm này các doanh nghiệp vẫn có đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh và đầu tư nhưng các doanh nghiệp vẫn tăng cường việc phát hành vốn cổ phần do đó quỹ tiền mặt sẽ tăng lên. Ngược lại, trong trường hợp cả hai thị trường không thuận lợi, công ty sẽ trì hoãn việc phát hành.
Lý thuyết này cũng cho rằng, thời điểm thị trường của việc phát hành vốn cổ phần có tác động mạnh và ảnh hưởng dai dẳng lên cấu trúc vốn. Đặc biệt, biến động trong giá trị thị trường gây ra những biến động lâu dài lên cấu trúc vốn của công ty. Có hai cách giải thích về thời điểm thị trường. Cách giải thích đầu tiên đến từ lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984), với giả định các nhà quản lý và các nhà đầu tư là có lý trí và có những lựa chọn khác nhau giữa các công ty hoặc theo thời gian.
Các nhà quản lý, những người trong nội bộ công ty là những người nắm rõ hơn ai hết tình hình tài chính của doanh nghiệp. Còn các cổ đông, nhà đầu tư bên ngoài thường tìm hiểu và nắm bắt thông tin của doanh nghiệp qua các nguồn tin khác nhau mà họ có thể tiếp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do đó, các công ty phát hành vốn cổ phần ngay sau khi thông tin tốt được công bố để giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và cổ đông.