CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài Kinh nghiệm của khá nhiều nước trên thế giới trong nhiều năm qua đã chỉ ra rằng việc mở cửa hội nhập nền kinh tế, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giúp các nước này mau chóng đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội quan trọng và trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế năng động, phát triển mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Dòng vốn FDI cũng được đánh giá là có vai trò quan trọng ở các nước có nền kinh tế thị trường mới nổi, có thể giúp các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách với các nước khác và vươn lên trở thành các nước phát triển mạnh mẽ. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì có được lợi ích là mở rộng thêm thị trường, kéo dài được chu kỳ sống của sản phẩm thông qua việc chuyển giao công nghệ, tận dụng các nguồn lực sẵn có và những thuận lợi từ quốc gia tiếp nhận đầu tư…Bên cạnh đó thì các quốc gia tiếp nhận đầu tư, họ có thêm nguồn lực từ bên ngoài đầu tư vào, hỗ trợ tăng cường thúc đẩy kinh tế phát triển, phát triển cơ sở hạ tầng, có thêm nhiều việc làm, nâng cao trình độ công nghệ…Các nền kinh tế mới nổi của các nước đang phát triển có những ưu thế nhất định khi được xem là thị trường tiềm năng do chưa được khai thác, có lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ và nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư. Tuy nhiên trong quá trình phát triển thì các quốc gia này cũng đang phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng đó là nạn tham nhũng.
Tổ chức minh bạch thế giới đưa ra những con số cần báo động đối với tình trạng tham nhũng ở các nước đang phát triển. Liên Hợp Quốc cũng đã cảnh báo rằng tham nhũng đã và đang trở thành chướng ngại vật được thể chế hóa, ảnh hưởng đến sự phát triển của các nước. Tác động của Tham nhũng, FDI đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng có những quan điểm khác nhau. Theo một số nhà nghiên cứu, tham nhũng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi các công ty đa quốc gia có thế mạnh về tài chính sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để hối lộ bộ máy chính quyền nhà nước nhằm mục đích nhận được các ưu đãi đầu tư, các khoản trợ cấp lớn, miễn, giảm, ưu 2 đãi thuế…tiếp cận được nhiều thông tin thuận lợi hơn.
Khi đó tham nhũng đã trở thành chất bôi trơn trong các hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tham nhũng lại tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi tham nhũng được xem như một loại phí mà các nhà đầu tư phải đóng, chính vì thế đã làm cản trở sự hấp dẫn đầu tư ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu của Mauro (1995) cho rằng tham nhũng làm giảm tổng giá trị đầu tư, qua đó làm cho tăng trưởng kinh tế ở các nước chậm lại. Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý với quan điểm về các tác động tiêu cực tham nhũng mang lại nhiều hơn so với tác động tích cực.
Tuy nhiên, một số bằng chứng thực nghiệm về sự tương phản giữa khả năng thu hút FDI và mức độ tham nhũng trong các nước đang phát triển là một phần của câu hỏi chưa được giải thích một cách rõ ràng. Hiện nay cũng chưa có nghiên cứu nào kiểm tra việc Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng như thế nào nếu có sự tương tác của tham nhũng. Theo lý thuyết, kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà đầu tư nên sẽ thu hút FDI, nhưng khi có sự tương tác của tham nhũng vào thì có đúng như vậy không ? Có thể thấy, mối quan hệ đa chiều giữa tăng trưởng kinh tế và FDI, Tham nhũng và FDI, tăng trưởng kinh tế và tham nhũng không chỉ được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm xem xét, mà còn được các nhà hoạch định chính sách kinh tế chú ý, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Bài nghiên cứu này cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này tại các nền kinh tế của các nước đang phát triển qua đó nêu ra gợi ý thu hút dòng FDI cũng như mức kiểm soát tham nhũng để nhằm mục đích kích thích tăng trưởng kinh tế.
Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài: “Tham nhũng, Đầu tư trực tiếp nước ngoài và Tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu ở các nước đang phát triển” để nghiên cứu.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu là kiểm tra sự tác động của việc Kiểm soát tham nhũng và Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến tăng trưởng kinh tế nói chung và vai trò của kiểm soát tham nhũng trong mối quan hệ FDI tác động GDP nói riêng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của bài nghiên cứu là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực trên đầu người. Có thể thấy sự đa dạng và phong phú trong các nghiên cứu trên thế giới về Tham nhũng tác động đến tăng trưởng kinh tế hay FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế. Với thực trạng hiện nay các nước đang phát triển đang trên đà phấn đấu trở thành các nước phát triển, vì thế các hoạt động tham nhũng hay đầu tư có tác động tốt hay xấu? Nếu tác động theo chiều hướng tích cực thì sẽ trong ngưỡng nào hay tác động tiêu cực thì sẽ có biện pháp gì nhằm cải thiện.
Chính vì thế rủi ro tiềm tàng rất lớn (thể hiện qua việc làm giảm tốc độ tăng trưởng ) thì việc nghiên cứu và đo lường các tác động đến tốc độ của tăng trưởng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này sẽ trả lời cho các câu hỏi: a. Mối quan hệ tương tác giữa Tham nhũng và Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc tác động đến tăng trưởng kinh tế ? b. Đầu tư trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế như thế nào? c.
Tham nhũng tác động đến tăng trưởng kinh tế như thế nào? 1.3 Phương pháp nghiên cứu a. Mô hình Xem xét mối quan hệ tương tác giữa Tham nhũng, FDI và Tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu của nhóm các tác giả Michael S. Delgado, Nadine McCloud và Subal C.Kumbhakar (2014) với mô hình tuyến tính như sau: GDPit = 0 + 1FDIit + 2CORit + 0GDPit-1 + 1FDI*COR + 3TO + 4GE + 5 DI + 6INF + it 4 Trong đó: Chỉ số i đại diện cho quốc gia được quan sát, chỉ số t là năm quan sát GDP : là tốc độ tăng trưởng của GDP bình quân trên đầu người hàng năm. GDPit-1: là tốc độ tăng trưởng của GDP bình quân trên đầu người kỳ trước.
FDI: là dòng vốn FDI tiếp nhận ròng hàng năm. COR: Mức kiểm soát tham nhũng, xét trên thang điểm từ -2,5 đến 2,5 theo WGI, trong đó -2.5 là tham nhũng cao và 2,5 là rất trong sạch. TO: Tỷ lệ xuất khẩu/nhập khẩu hàng năm của các quốc gia. GE: Tổng chi tiêu chính phủ/GDP DI: Đầu tư trong nước theo tỷ lệ phần trăm của GDP thực.
INF: Tỷ lệ lạm phát hàng năm. it Là phần sai số theo không gian và chuỗi thời gian kết hợp b. Phương pháp Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sử dụng phương pháp ước lượng GLS để xử lý hiện tương phương sai thay đổi và tự tương quan giữa các quốc gia Theo lý thuyết mà tác giả nghiên cứu thì hai biến FDI và GDP có mối quan hệ nội sinh với nhau, vì thế để giải quyết vấn đề nội sinh này tác giả sử dụng phương pháp hồi quy 2 giai đoạn GMM là một trong ba phương pháp được sử dụng phổ biến để khắc phục được vấn đề nội sinh.4 Phạm vi nghiên cứu Các số liệu chủ yếu lấy từ các nguồn đáng tin cậy như: World Governance Indicators, World Development Indicators, Pen World Table 9. Đối tượng nghiên cứu là Tham nhũng, FDI và Tăng trưởng kinh tế.
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2000 – 2014 với 76 quốc gia đang phát triển là : Bangladesh, Iran, Cambodia, China, India, Indonesia, Lao, Malaysia, 5 Mogolia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thailand, Vietnam, Turkey, Czech, Republic, Brazil, Saudi Arabia, Cameroon, Chile, Colombia, Egypt Arab Rep, Hungary, Mexico, Argentina, South Africa, Ghana, Costa Rica, Ecuador, Jordan, Peru, Moldova, Togo, Uruguay, Angola, Armenia, Bahrain, Bulgaria, Cote d’ivoire, Fiji, Paraguay, Yemen, Nicaragua, Panama, Poland, Kenya, Sudan, Venezuela, Maldvies, Uganda, Zambia, Algeria, Antigua and Barbuda, Azerbajian, Bahamas, Barbados, Belarus, Belize, Bolivia, Cabo Verde, Gruzia, Grenada, Honduras, Macedonia, Mauritius, Mozambique, Papua New Guinea, St. Vincent and The Grenadines, Senegal, Sierra Leone, Suriname, Tanzania, Trinidad and Tobago,Tunissia. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một quốc gia khác (quốc gia nhận đầu tư) không phải tại quốc gia mà doanh nghiệp đang hoạt động với mục đích quản lý có hiệu quả doanh nghiệp.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một quốc gia (nước chủ đầu tư) có được một số tài sản ở một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản của nhà đầu tư quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty.