Chương 1 giới thiệu những nét chính về công trình nghiên cứu, bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cụ thể, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát, khảo lược ngắn gọn các nghiên cứu liên quan trước đây để chỉ rõ đề tài của luận văn được thực hiện để góp phần lấp đầy khoảng trống tri thức hiện có, thể hiện nghiên cứu không bị trùng lặp. 7 Chương 3 nêu ra mô hình và phương pháp nghiên cứu mà luận văn sẽ sử dụng. Cụ thể, nội dung của chương này bao gồm: Trình bày tính phù hợp của phương pháp nghiên cứu được lựa chọn và nêu rõ phương pháp nghiên cứu được lựa chọn, trình bày đối tượng nghiên cứu và mẫu nghiên cứu, mô tả các biến, cách thức đo lường các biến và nguồn số liệu.
Chương 4 trình bày các kết quả tính toán và kết quả kiểm định thông qua bảng số liệu, đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận các kết quả đó với thực trạng hiện tại cũng như so sánh với các nghiên cứu trước. Chương 5 trên cơ sở đúc kết từ các kết quả nghiên cứu và quá trình thực hiện nghiên cứu: trình bày các gợi ý chính sách và các kiến nghị, các hạn chế của nghiên cứu và khuyến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CUNG TIỀN ĐẾN LẠM PHÁT 2. Lý luận cơ bản về thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát 2.
Thâm hụt ngân sách 2. Khái niệm ngân sách nhà nước Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ, được thiết lập hằng năm. Có thể thấy cách tiếp cận này chỉ đề cập đến vẻ bề ngoài, trong khi chưa thể hiện được bản chất của NSNN (Dương Đăng Chinh, 2007). Các nhà kinh tế học hiện đại cũng chưa có sự đồng thuận về cách định nghĩa khái niệm này.
Chẳng hạn, các nhà kinh tế của Nga cho rằng NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước, và tài chính công là các quan hệ kinh tế phát sinh khi NSNN thực hiện (Lê Văn Tề 2011). Ở Việt Nam, theo Luật Ngân sách Nhà nước (2015): NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Thu ngân sách nhà nước Thu NSNN là một phần của nguồn tài chính quốc gia được nhà nước tập trung để tạo lập nên quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ cho các mục tiêu chung của quốc gia (Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg, 2017). Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 Thu NSNN bao gồm: a) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí 9 thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; d) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Thuế và các khoản thu mang tính chất thuế. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân vào nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của nhà nước. Các khoản thu mang tính chất thuế như: (i) Phí: là một khoản thu bắt buộc mang tính chất bù đắp một phần chi phí thường xuyên và bất thường về các dịch vụ công cộng hoặc duy trì tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí (phí giao thông, phí cầu đường, phí cầu phà).
Các khoản thu không mang tính chất thuế. Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, bao gồm: (i) Thu lợi tức từ hoạt động liên doanh, liên kết, thu cổ tức; (ii) Thu vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế, mang tính chất thu hồi vốn của nhà nước; (iii) Thu hồi tiền cho vay của nhà nước; (iv) Thu về sử dụng vốn ngân sách, là số thu trên số vốn ngân sách cấp hoặc có nguồn gốc từ NSNN nhằm quản lý chặt chẽ vốn nhà nước giao cho các cơ sở kinh doanh sử dụng. (v) Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên. Các khoản vay: mục đích của các khoản vay là để bù đắp thiếu hụt ngân sách, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế, Nhà nước huy động bằng cách đi vay trong nước và vay nước ngoài.
Nhà nước đi vay trong nước thong qua hình thức phát hành trái phiếu nhà nước, chẳng hạn như: công trái, trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho 10 bạc,… để huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cư và vay của ngân hàng trung ương. Chính phủ có thể vay nước ngoài với các hình thức vay nợ như: vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA – Official Development Assistance), vay ưu đãi, vay thương mại. Tóm lại, thu NSNN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng đều bắt nguồn từ nền kinh tế gắn với kết quả hoạt động kinh doanh. Mức thu ngân sách một mặt phụ thuộc vào ý chí của nhà nước, mặt khác, chịu sự tác động của nhiểu yếu tố khác nhau, trong đó yếu tố quan trọng nhất là thực trạng kinh tế mỗi quốc gia, GDP là chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng mỗi nền kinh tế, là yếu tố khách quan quyết định mức động viên của ngân sách.
Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu của quốc gia (Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg, 2017). Theo Khoản 2 Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 Chi NSNN bao gồm: a) Chi đầu tư phát triển; b) Chi dự trữ quốc gia; c) Chi thường xuyên; d) Chi trả nợ lãi; đ) Chi viện trợ; e) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chi thường xuyên: các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi cho tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý của nhà nước. Chi đầu tư: khoản chi này mang tính chất tích lũy, có ảnh hưởng trực tiếp đến tang năng suất xã hội và đối với các quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế.
11 Chi trả nợ, cho vay và viện trợ: chi trả nợ gốc và lãi các khoản do chính phủ vay, chi cho vay của ngân sách trung ương, chi viện trợ của ngâ sách trung ương cho các chính phủ và tổ chức ngoài nước. Chi dự trữ: chi dự trữ bổ sung nhà nước là một bộ phận của hệ thống dự trữ có mục đích điều chỉnh hoạt động của thị trường, điều hòa cung cầu của tiền, ngoại tệ và một số mặt hàng thiết yếu, ổn định giá cả, trên cơ sở đó đảm bảo sự hoạt động ổn định của nền kinh tế. Các khoản chi khác: chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau… 2. Các loại thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách nhà nước (ngân sách nhà nước bội chi) là tình trạng tổng chi của NSNN vượt quá tổng thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của NSNN (Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg, 2017).
Thâm hụt ngân sách thực tế: là thâm hụt khi tổng số chi thực tế vượt tổng số thu thực tế trong một thời kỳ nhất định. Thâm hụt ngân sách cơ cấu: là thâm hụt tính toán trong trường hợp nền kinh tế đang hoạt động ở mức cân bằng sản lượng. Thâm hụt ngân sách chu kỳ: là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng của chu kỳ kinh doanh. Thâm hụt chu kỳ bằng hiệu số của thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu.
Trong ba loại thâm hụt trên, thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của chính sách tài khóa như: chính sách thuế, chương trình thanh toán chuyển nhượng. Vì vậy, để đánh giá kết quả của chính sách tài khóa, người ta thường sử dụng loại thâm hụt này (Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg, 2017). Nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách Theo Lê Thị Tuyết Hoa, Đặng Văn Dân và ctg (2017) khi các giải pháp tăng thu, giảm chi vẫn không giải quyết hoàn toàn vấn đề chi ngân sách, dẫn đến thâm hụt 12 ngân sách, thì chính phủ cần phải sử dụng các giải pháp nhằm tài trợ cho việc thâm hụt ngân sách. Có bốn nguồn cơ bản có thể tài trợ cho thâm hụt của ngân sách, đó là: Một là, vay tiền từ ngân hàng trung ương.
Việc chính phủ vay tiền từ ngân hàng trung ương tương đương với việc tạo thêm cơ số tiền tệ cho nền kinh tế, chính việc này có thể dẫn đến hiện tượng dư thừa lượng tiền tệ trong lưu thông và sau cùng đẩy lạm phát tăng cao. Ở nhiều nền kinh tế, một bộ phận lớn thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng cách in thêm tiền và điều này chính là nguyên nhân gây ra lạm phát trầm trọng. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế đang ở trạng thái suy thoái, sản lượng thực tế (Y) của nền kinh tế thấp hơn sản lượng tiềm năng (Y*), thì việc tài trợ số thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm tiền cơ sở sẽ góp phần thực hiện được mục tiêu ổn định hóa nền kinh tế bằng cách đưa nền kinh tế tiến gần đến mức sản lượng tiềm năng mà không gây ra lạm phát. Hai là, vay tiền từ hệ thống ngân hàng thương mại.
Khác với việc vay tiền từ ngân hàng trung ương, khi vay tiền từ ngân hàng thương mại không dẫn tới phát hành tiền, không làm tăng cơ số tiền tệ. Nhưng có thể dân đến tăng cung tiền do khả năng tạo bút tệ của các ngân hàng thương mại tăng lên nếu tỷ trọng cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại trong tổng thể nền kinh tế tăng lên.