CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Quá tự tin và cấu trúc vốn 1.1 Quá tự tin Theo các tài liệu nghiên cứu về tâm lý và hành vi, s quá l c qu n th ng c em là m t nh n thức t ch c c về khả năng các s kiện trong t ơng l i sẽ ảy ra rất tốt ẹp, thu n l i hơn th c tế ảy r , ồng th i ánh giá thấp khả năng các s kiện bất l i sẽ ảy r. Trong khi ó quá t tin c em là ánh giá quá c o về chất l ng và ch nh ác củ thông tin có sẵn, hoặc ánh giá quá thấp s biến ng liên qu n ến s không chắc chắn, ồng th i quá t tin làm cho con ng i tin t ởng quá mức vào kỹ năng cá nhân, họ cho rằng họ có kỹ năng c o hơn so với những ng i khác hoặc "trên trung bình". Theo Taylor và Brown (1988), con ng i có những qu n iểm không th c tế về bản thân họ. S quá t tin làm con ng i có u h ớng ánh giá quá c o những kỹ năng và kiến thức củ mình cũng nh ánh giá quá c o chất l ng và ch nh ác những thông tin mà họ th c s có.
Nghiên cứu về “ảo t ởng t ch c c” (positive illusion) cho thấy hầu hết mọi ng it ánh giá những kỹ năng h y những ặc t nh t ch c c củ bản thân tốt hơn ng i khác hoặc tốt hơn mức trung bình. Nh nghiên cứu củ Svenson (1981), tác giả tiến hành phát phiếu khảo sát h i nhóm sinh viên i học t i Mỹ và Thụy Điển với câu hỏi: Hãy nghĩ về kỹ năng lái e củ b n. B n có tin rằng kỹ năng củ mình tốt hơn mức trung bình h y tốt hơn những ng i khác ở trong phòng không? Kết quả có ến 82% cá nhân trong nhóm sinh viên t i Mỹ t ếp mình ở nhóm 30% các tay lái an toàn nhất, trong khi ở Thụy Điển là 71%. Đồng th i có 88% cá nhân trong nhóm sinh viên t i Mỹ và 77% cá nhân trong nhóm sinh viên t i Thụy Điển cho rằng họ lái e n toàn hơn mức trung bình.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 M t nghiên cứu khác xem xét quá t tin và quá l c qu n liên qu n ến nhà quản lý c th c hiện bởi March và Sh pir (1987), cho thấy rằng các nhà quản lý s u khi l chọn các d án ầu t , họ th ng rơi vào tình tr ng c gọi là “ảo t ởng kiểm soát” (illusion of control), tức là có thái ánh giá thấp ác suất thất b i và có u h ớng ánh giá quá c o khả năng riêng củ mình, họ cho rằng họ có khả năng kiểm soát c kết quả mặt dù kết quả là ch chắc chắn. Cũng nghiên cứu về s quá t tin, mô hình củ Goel và Th kor (2002) em xét m t kh c nh khác ó là quá trình chọn l các nhà lãnh o trong trong tổ chức. M t kết lu n trong nghiên cứu này là s c nh tr nh vị tr lãnh o làm cho các ứng cử viên có u h ớng r các quyết ịnh có rủi ro hơn. Trong tr ng h p này, các ứng viên quá t tin sẽ có l i thế hơn các ồng nghiệp và ác suất t c vị tr c o trong công ty sẽ lớn hơn.
Hơn nữ nghiên cứu củ Gerv is (2003) cũng cho thấy những ng i quá t tin và quá l c qu n về chuyên môn và nghề nghiệp sẽ có nhiều cơ h i trúng tuyển vào những vị tr quản lý cấp c o. Những công ty th ng chọn những ng i này ể thăng chức nếu họ chấp nh n chịu nhiều trách nhiệm hơn. Điều này giống với các kết quả nghiên cứu về tâm lý hành vi khác nh củ Miller & Ross (1975); Nisbett &Ross (1980), con ng i th ng quá tin t ởng vào khả năng thành công trong công việc, họ quá t tin vào những ớc t nh không chắc chắn và giả ịnh quá thấp về trách nhiệm khi thất b i. Ngoài ra, nghiên cứu củ Fischhoff (1977) và Lichtenstein (1982) cho thấy rằng mức quá t tin trong các thử nghiệm sẽ c o hơn khi ng i th m gi trả l i những câu hỏi khó.
Tuy nhiên bài nghiên cứu cũng cho thấy không phải lúc nào con ng i cũng quá t tin, s quá t tin có u h ớng giảm và có khi biến mất khi con ng i gặp những câu hỏi quá dễ, hiện t ng này th ng c gọi là hiệu ứng khó-dễ (h rd- easy effect). Hiệu ứng ảy r khi con TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 ng i thể hiện s quá t tin nhiều hơn ối với những câu hỏi khó hơn và t t tin hơn, th m ch là thiếu t tin với những câu hỏi dễ. M t vài nghiên cứu khác t p trung chủ yếu vào khuynh h ớng quá l c qu n, khuynh h ớng này liên qu n rất chặt chẽ ến quá t tin. Nghiên cứu tiên phong c r bởi einstein (1980, 1982).
Trong nghiên cứu củ mình, ông yêu cầu ng i th m gi th nghiệm ánh giá ác suất ảy r củ m t lo t s kiện có thể ảy r với họ và ối chiếu với những ng i khác. Các s kiện ở ây b o gồm cả s kiện tốt lẫn s kiện ấu. Kết quả, những ng i th m gi cho rằng ác suất ảy r những s kiện tốt trong t ơng l i c o hơn và ác suất ảy r các s kiện ấu trong t ơng l i thấp hơn so với những ng i khác.2 Quá tự tin và cấu trúc vốn S quá l c qu n và quá t tin ảnh h ởng ến các quyết ịnh củ công ty c bắt ầu khám phá bởi những nhà nghiên cứu Tài ch nh hành vi, tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ qu n tâm việc nhà quản lý giải quyết vấn ề liên qu n ến những hành vi quá t tin củ các nhà ầu t bên ngoài. Chỉ gần ây mới uất hiện m t vài nghiên cứu t p trung vào những thiên lệch nh n thức củ bản thân các nhà quản lý và cố gắng em ét hành vi các nhà quản lý có thể ảnh h ởng ến các quyết ịnh ầu t và nhất là quyết ịnh tài tr củ công ty nh thế nào.
Trong mô hình c bởi He ton (2002), ng i mô hình ầu tiên về mối qu n hệ giữ lệch l c quản lý với quyết ịnh tài tr , cho thấy các nhà quản lý quá l c qu n tin rằng các d án có sẵn cho công ty củ họ tốt hơn (về l i nhu n k vọng) so với th c tế. ì v y, họ nghĩ rằng chứng khoán do công ty phát hành, cho dù trái phiếu hoặc cổ phiếu, sẽ bị các nhà ầu t bên ngoài ịnh giá thấp (mô hình giả ịnh thị tr ng vốn hiệu quả). Theo lẽ t nhiên, cổ phiếu sẽ là chứng khoán c bị ánh giá thấp nhất, iều này dẫn ến u tiên theo lý thuyết tr t t phân h ng. Các công ty sẽ th ch chọn nguồn tài tr bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trong cho những d án ầu t , nguồn tài tr thứ 2 là phát hành chứng khoán n , và phát hành cổ phiếu là chọn l cuối cùng.
S khác nh u cơ bản trong l p lu n củ Myers (1984) và Myers-M jluf (1984) với He ton (2002) là He ton giải th ch nghiên cứu củ mình d vào hành vi quá l c qu n củ nhà quản lý, với các yếu tố khác giống nh u. Nghiên cứu có kết quả t ơng t nh He ton(2002) c cung cấp bởi M lmendier và T te (2002; 2003), M lmendier (2007).Trong mô hình, tác giả giả ịnh chi ph phá sản là cố ịnh và không phụ thu c vào số tiền v y n , m t nhà quản lý lý tr l chọn việc tài tr bằng vốn cổ phần h y bằng n v y phụ thu c vào l i ch từ thuế là c o h y thấp hơn chi ph phá sản. Nhà quản lý quá l c qu n tin rằng thị tr ng ng ánh giá thấp chứng khoán củ công ty do ó tài tr bên ngoài là khá tốn kém. Khi ó nhà quản lý sẽ u tiên sử dụng nguồn tiền mặt d trữ bên trong và huy ng tối những khoản n phi rủi ro tr ớc khi phát hành n có rủi ro.
Theo tác giả những nhà quản lý quá l c qu n th ng ánh giá quá c o l i ch từ thuế và cho rằng vốn chủ sở hữu là rất tốn kém. Do ó, khác với nhà quản lý lý tr , nhà quản lý quá l c qu n có u h ớng l chọn m t tỷ lệ n nhiều hơn nếu phải tiếp c n với nguồn tài tr bên ngoài. Tóm l i, tiêu chuẩn tr t t phân h ng vẫn phù h p với nhà quản lý l c qu n theo nh nghiên cứu củ M lmendier và c ng s. Trong m t nghiên cứu khác, H ckb rth (2004 &2008), tác giả ây d ng mô hình phân biệt rõ giữ quá t tin và quá l c qu n và phân t ch tác ng củ lệch l c ến củ s biến ng củ l i nhu n t ơng l i.
Theo tác giả, s l c qu n nh m t lệch l c thiên về ánh giá quá c o mức trung bình củ các khoản thu nh p không chắc chắn củ công ty, trong khi quá t tin là lệch l c thiên về ánh giá quá thấp rủi ro củ các khoản thu nh p. Mô hình này ến kết lu n, những nhà quản lý có khuynh h ớng thiên lệch theo h ớng quá l c qu n và hoặc quá t tin sẽ chọn phát hành n c o hơn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 những nhà quản lý bình th ng. H ckb rth cho thấy iều này ảy r bởi vì ng i quản lý thiên lệch tin rằng công ty củ mình t có khả năng rơi vào kiệt quệ tài ch nh trong khi l i ánh giá thấp khả năng và chi ph phá sản, do ó nhà quản lý sẽ sử dụng n nhiều hơn ể kh i thác các l i ch tấm chắn thuế.