chương 1, tác giả đã nêu lý do chọn đề tài nghiên cứu cũng như xác định được mục tiêu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cụ thể và đóng góp của đề tài. Trong chương 2, tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi né tránh thuế của các doanh nghiệp ngành điện Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 của khóa luận trình bày nội dung cơ bản về cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm cơ sở lý thuyết về tác động của né tránh thuế đến GTDN, cơ sở lý thuyết về mức độ SHNN tác động đến hành vi né tránh thuế và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có cùng chủ đề.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của né tránh thuế đến GTDN 2.1 Khái niệm về tránh thuế Trái ngược với trốn thuế, tránh thuế liên quan đến việc sử dụng các chiến lược hợp pháp để giảm số tiền thuế mà một người hoặc một doanh nghiệp phải trả. Tận dụng tối đa các chi phí hợp lý, sắp xếp các giao dịch để giảm nghĩa vụ thuế, chẳng hạn như mua trái phiếu địa phương, khấu trừ thuế và tận dụng các ưu đãi về thuế là những cách phổ biến để đạt được điều này (theo Desai & Dharmapala, 2009).
Theo Armstrong & ctg (2012), thuật ngữ "tránh thuế" cũng có thể được sử dụng để mô tả hành vi tránh thuế thông qua kẽ hở các vấn đề cá nhân hoặc nghề nghiệp của một người theo cách lợi dụng các mâu thuẫn pháp lý, sơ hở hoặc các thiếu sót pháp lý khác. Một trong những lý do chính khiến các doanh nghiệp tránh thuế là để tăng dòng tiền tự do. Một cách khác là sử dụng tiền tiết kiệm được từ thuế để tài trợ cho các hoạt động hoặc đầu tư. Việc tránh thuế liên quan đến việc một tổ chức giữ lại các nguồn tiền mặt trong công ty mà nếu không thì sẽ chuyển cho Ngân sách Nhà nước.
Những nguồn lực này có thể dẫn đến nâng cao giá trị công ty (bao gồm cả cổ đông). Tuy nhiên, mối liên hệ tránh thuế/giá trị cổ đông này có thể bị suy yếu do các vấn đề về đại diện liên quan đến sự tách biệt giữa cổ đông và người quản lý vì một số lý do. Đầu tiên, sự tách biệt giữa cổ đông/quản lý này có thể tạo cơ hội cho các nhà quản lý lợi dụng hành vi trốn thuế để thực hiện hành vi tư lợi có thể gây tổn hại đến giá trị của công ty. Thứ hai, doanh nghiệp có thể ngụy trang cho các hoạt động liên quan đến thuế 10 của mình bằng các giao dịch bí mật và phức tạp để tránh bị cơ quan thuế vạch trần hành vi trốn thuế; sự che giấu như vậy cũng có thể làm giảm tính minh bạch cho các cổ đông.
Thứ ba, tránh thuế có thể dẫn đến tổn thất danh tiếng lâu dài. Thứ tư, tránh thuế có thể không phù hợp với xã hội hành vi có trách nhiệm (Sikka, 2010), điều này có thể quan trọng đối với một số cổ đông. Các cổ đông cũng có thể ưu tiên các công ty có trách nhiệm xã hội hơn (MacKey et al. Hanlon và Heitzman (2010) định nghĩa tránh thuế là một tập hợp khép kín của tất cả các chiến lược lập kế hoạch thuế.
Một đầu của tập hợp đóng là tránh thuế hợp pháp trong khi đầu kia là không tuân thủ, trốn tránh. Vì các nghiên cứu thực nghiệm thường không thể phân biệt rõ ràng giữa lập kế hoạch thuế và trốn thuế, Hanlon và Heitzman (2010) áp dụng định nghĩa do Dyreng và cộng sự (2008) đề xuất, đề cập đến tất cả các giao dịch làm giảm nghĩa vụ thuế của công ty là hành vi tránh thuế. Có thể khó phân biệt giữa gian lận thuế (vi phạm luật) và tránh thuế (sử dụng luật để giảm thiểu số tiền thuế phải trả). Về mặt lý thuyết, gian lận thuế và tránh thuế có thể khác biệt, nhưng cả hai đều dẫn đến thất thoát thu nhập từ thuế, làm giảm tính công bằng của hệ thống thuế và làm thay đổi môi trường cạnh tranh của thị trường.
Khi người nộp thuế áp dụng các biện pháp phi đạo đức để trốn tránh nộp thuế đầy đủ, họ bị coi là gian lận thuế. Trốn thuế là hành vi sử dụng các kẽ hở của hệ thống thuế hiện hành để giảm nghĩa vụ thuế. Theo Slemrod và Yitzhaki (2000), hầu như rất khó để thuyết phục mọi người về sự khác biệt rõ ràng giữa gian lận thuế và tránh thuế. Để nâng cao giá trị của công ty trong khi giảm số tiền thuế phải nộp cho chính phủ, các nhà quản lý tham gia vào hoạt động tránh thuế.
Điều này làm giảm xung đột đại diện phát sinh giữa các cổ đông và các nhà quản lý (Wang, 2012). Uy tín của các nhà quản lý cũng như triển vọng việc làm của họ có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi trốn thuế. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xác định lý do tại sao các tập đoàn tham gia vào việc tránh thuế với những lợi ích của việc làm như vậy. Khi giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động tránh thuế, những 11 nghiên cứu này trước tiên tập trung vào triển vọng tăng trưởng, các biện pháp khuyến khích và nguồn lực để các doanh nghiệp lập kế hoạch thuế (Rego, 2003).
Nghiên cứu gần đây đã mở rộng chủ đề này bằng cách kiểm tra tác động của xung đột giữa cổ đông và cơ quan quản lý đối với hành vi trốn thuế TNDN. Các nhà nghiên cứu trước thường sử dụng hai biến số liên quan đến thuế bao gồm: chênh lệch thuế ghi sổ (BTD) và thuế suất thực tế (ETR) để đo lường hành vi tránh thuế. Bởi vì ETR có thể đánh giá tính hiệu quả của các thủ tục quản lý thuế doanh nghiệp nên đây là thước đo được sử dụng thường xuyên nhất trong nghiên cứu kế toán trước đây để mô tả các bất thường về thuế (Armstrong và cộng sự, 2012; Chen và cộng sự, 2010; Mills và cộng sự, 1998; Phillips, 2003). Theo Frank và cộng sự (2009), ETR là một yếu tố nghịch đảo của hành vi tránh thuế của công ty vì các công ty ít có khả năng tham gia vào các hoạt động tránh thuế khi ETR cao.
Ngược lại, số liệu BTD cho thấy sự khác biệt giữa thu nhập trước thuế và thu nhập chịu thuế của một công ty để xác định bất kỳ chiến lược tránh thuế nào (Lin & ctg, 2014). Do đó, BTD là một chức năng liên quan đến tránh thuế doanh nghiệp, giá trị BTD càng cao, công ty càng tránh thuế nhiều hơn. Tác giả sử dụng dữ liệu ETR để cung cấp ví dụ về tránh thuế. ETR được tính bằng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp trên tỷ suất lợi nhuận kế toán trước thuế.
Theo nghiên cứu của Armstrong et al. (2012) và Chen và cộng sự (2010), trốn thuế có xu hướng trở nên phổ biến hơn khi ETR thấp.2 Thuật ngữ tránh thuế tích cực Thuật ngữ tránh thuế tích cực thiếu định nghĩa chung vì nó có thể bao hàm “điều khác biệt đối với những người khác nhau” (Hanlon & Heitzman, 2010; Annuar & ctg, 2014). Khái niệm tránh thuế tích cực có ý nghĩa giống như lập kế hoạch thuế, tránh thuế, giảm thuế và nơi trú ẩn thuế trong điều kiện đáp ứng các quy định pháp lý và đạo đức do cơ quan thuế thiết lập (Badertscher & ctg, 2011; Armstrong & ctg, 2012; Ogbeide & Iyafekhe, 2018). Khái niệm này có nhiều cách khái niệm hóa, tài liệu tham khảo và thậm chí có nhiều cách khác nhau để đo lường, nhưng hầu hết 12 chúng đều có cùng ý nghĩa và mục đích nhưng khác nhau về tác động đối với sức khỏe của công ty (Boussaidi & Hamed, 2015).
Với những điều này, một số định nghĩa về tránh thuế doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu đưa ra trong thời gian gần đây. Hanlon và Heitzman (2010) đã định nghĩa tránh thuế theo nghĩa rộng là việc giảm thuế. Họ định nghĩa tránh thuế là sự liên tục của các chiến lược hoạch định thuế trong đó một đầu là đầu tư vào trái phiếu đô thị (hoàn toàn hợp pháp), hai là các thuật ngữ như “không tuân thủ”, “trốn tránh”, “gây hấn” và “trốn tránh”. Lập kế hoạch thuế đề cập đến nỗ lực của các công ty nhằm giảm thiểu các khoản nộp thuế bằng cách sử dụng các hoạt động lập kế hoạch thuế tích cực và tránh thuế (Chen & ctg, 2010).
Theo Onyali & Okafor (2018), tránh thuế tích cực là một chiến lược được sử dụng bởi ban quản lý của các tổ chức doanh nghiệp, bao gồm các quy trình, thông lệ, nguồn lực và lựa chọn với mục tiêu là tối đa hóa thu nhập sau tất cả các khoản nợ của công ty đối với nhà nước và các bên liên quan khác. Việc thực hiện loại chiến lược này hướng tới việc giảm cơ sở thuế cho phép tạo ra chi phí phi thuế tiềm năng cao phát sinh từ xung đột giữa các cơ quan hoặc cơ quan thuế, chẳng hạn như hình phạt và trích tiền thuê (Desai & Dharmapala, 2009). Rõ ràng mục tiêu tránh thuế của mọi công ty là tăng thu nhập ròng của công ty, điều này tạo ra tín hiệu tích cực đối với các nhà đầu tư nước ngoài (Chen và cộng sự, 2010).3 Tác động của hành vi tránh thuế đến GTDN Hai lý thuyết cạnh tranh giải thích mối liên hệ giữa hành vi tránh thuế và GTDN. Quan điểm thứ nhất cho rằng hoạt động tránh thuế và GTDN có mối tương quan thuận.
Lý thuyết hợp tác ủng hộ quan điểm này. Trên thực tế, việc tránh thuế kéo theo việc chuyển tài sản từ chính phủ sang cho các cổ đông (Desai và Dharmapala, 2009), bất kỳ sự thay đổi nào về GTDN thường do chi phí thuế TNDN gây ra (Jimenez và Angueria, 2008). Nói cách khác, hành vi trốn thuế của các nhà quản lý nâng cao giá trị của công ty bằng cách giảm chi phí thuế TNDN. Sau đó, các nhà quản lý giả định rằng vì những nỗ lực của họ nhằm tăng lợi nhuận cho cổ đông, các 13 cổ đông sẽ thưởng cho kế hoạch tránh thuế của họ.
Do đó, các nhà quản lý sẽ có động lực để tham gia vào các hoạt động tránh thuế nhằm nâng cao GTDN (Kim và cộng sự, 2011). Ngoài ra, giả thuyết hợp tác cho rằng bằng cách sử dụng các kỹ thuật trốn thuế, các nhà quản lý có thể nâng cao giá trị của công ty và do đó, danh tiếng hoặc cơ hội việc làm của chính họ. Quan điểm thứ hai theo lý thuyết đại diện cho rằng mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế và GTDN là ngược chiều.