chương 1 Trong chương này, tác giả trình bày lý do vì sao tác giả lựa chọn đề tài ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, trong chương này tác giả còn trình bày phạm vi, đối tượng mà đề tài tiến hành nghiên cứu, trong đó cụ thể phạm vi nghiên cứu được giới hạn đó là khả năng sinh lợi chỉ bao gồm khả năng sinh lời được biểu diễn thông qua các chỉ số đo lường tài chính cụ thể là hai chỉ số: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), và các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu. Từ đây tác giả cũng sẽ trình bày các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của mình, để từ đó xây dựng nền tảng cho việc tìm hiểu các cơ sở lý thuyết liên quan, đồng thời lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Quản trị vốn lưu động doanh nghiệp 2. Vốn lưu động và cấu phần vốn lưu động Vốn lưu động thường được định nghĩa là giá trị chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn so với các khoản nợ ngắn hạn và được tính là Tài sản ngắn hạn trừ đi Nợ ngắn hạn trong bảng cân đối kế toán (Dr. Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn – Các khoản phải trả ngắn hạn Thông qua công thức xác định trên, có thể thấy các yếu tố ảnh hưởng đến vốn lưu động là các khoản mục thuộc tài sản ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn. Cũng theo ThS.
Ngô Kim Phượng (2013), nhân tố cấu phần quan trọng nhất trong vốn lưu động có thể kể đến các khoản mục sau: hàng tồn kho, các khoản phải thu khách hàng và các khoản phải trả người bán, vì các khoản mục trên chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô hoạt động và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tiền mặt cũng được coi là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành trong vốn lưu động ròng của doanh nghiệp (Kasim Hamza, Zubieru Mutala, Stephen Kwadwo Antwi (2015)). Tiền và các khoản tương đương tiền: phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn có thời hạn thu hồi không quá 03 tháng và ít rủi ro. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất.
Do vậy, số dư tiền và các khoản tương đương tiền (gọi tắt: vốn bằng tiền hay tiền mặt) càng lớn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao. Tuy vậy, dự trữ tiền mặt quá lớn sẽ làm giảm khả năng sinh lời của vốn do tiền mặt là tài sản có khả năng sinh lời thấp, hoặc không sinh lời, thậm chí sinh lời âm khi nền kinh tế có mức lạm phát cao. Tiền và các khoản tương đương tiền bao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản tương đương tiền. Khoản phải thu: là những khoản mà khách hàng và các bên liên quan đang nợ doanh nghiệp.
Do vậy đây được coi là loại tài sản có tính thanh khoản cao chỉ sau tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn, đồng thời là một loại tài lưu động quan trọng trong vốn lưu động. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu của doanh nghiệp có thể nói hều hết các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thu, bao gồm cả các khoản phải thu từ hoạt động tín dụng thương mại lẫn tiêu dùng. Các mức độc của các khoản phải thu tùy thuộc vào từng đối tượng mua hàng, có các khoản phải thu có giá trị lớn cũng có các khoản có giá trị nhỏ. Trong nền kinh tế thị trường thì chính sách bán chịu cũng được coi là một trong những phương pháp cạnh tranh, việc bán chịu cho khách hàng không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng doanh thu mà còn giúp các doanh nghiệp củng cố mối quan hệ với các khách hàng.
Tuy vậy các chính sách về bán chịu cũng gây rủi ro tương đối lớn đối với các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng. Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro thu hồi công nợ của mình. Hàng tồn kho: đây là khoản mục phản ánh toàn bộ các giá trị về giá vốn của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm và hàng hóa đang được tồn trữ trong kho của doanh nghiệp. Đây là khoản mục chiếm giá trị tương đối lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp, đồng thời cũng là toàn bộ nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai.
Việc dự trữ hàng tồn kho không chỉ khiến doanh nghiệp trang trải các chi phí về dự trữ, bảo quản, bảo hành các sản phẩm hư/lỗi thời, mà còn khiến doanh nghiệp phải gánh thêm các khoản chi phí cơ hội của việc nắm giữ và đầu tư vào các tài sản khác. Do vậy đây được xem là bộ phận tài sản ngắn hạn quan trọng trong tổng tài sản của doanh nghiệp, và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 được xem là một trong những khoản mục có tính thanh khoản tương đối tốt xếp sau các khoản phải thu. Từ đây cho thấy việc kiểm soát và duy trì lượng hàng tồn kho hợp lý là một trong những yêu cầu hết sức quản trọng mà bất cứ nhà quản trị nào của doanh nghiệp cũng phải đáp ứng hoàn thiện. Các khoản phải trả: trái ngược với tính chất của khoản phải thu, đây có thể được coi là nguồn tín dụng mà các doanh nghiệp chiếm đụng được từ các nhà cung cấp.
Việc trì hoãn và kéo dài thời gian thanh toán có thể được coi là một trong những nguồn tài trợ ngắn hạn với chi phí tương đối ổn định và ít tốn kém. Quản trị vốn lưu động Theo A.Sharma và Satish Kumar (2011): “Quản lý vốn lưu động là một phần quan trọng trong các quyết định quản lý tài chính ở tất cả các công ty. Khả năng hoạt động của công ty phụ thuộc vào sự đánh đổi giữa việc đầu tư vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn (vốn lưu động)”. Hiệu quả trong quản lý vốn lưu động là rất quan trọng, đặc biệt là đối với các công ty sản xuất vì nó chiếm hơn một nửa tổng tài sản của mình.
Đối với một công ty thương mại hoặc phân phối, họ chiếm hơn một nửa tổng tài sản của họ và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty (Abdul Raheman and Mohamed Nasr (2007)). Đồng thời tại nghiên cứu của Abdul Raheman and Mohamed Nars, cũng chỉ ra: đôi khi, việc quản lý vốn lưu động không chính xác cũng có thể dẫn đến phá sản, mặc dù lợi nhuận của họ có thể liên tục tích cực (trích dẫn từ Samiloglu và Demirgunes (2008)). Việc duy trì mức tài sản quá mức có thể dễ dàng dẫn đến một công ty có thể nhận được lợi tức đầu tư không đạt như mong muốn. Mặt khác, các công ty duy trì mức tài sản thấp hơn có thể phải chịu sự thiếu hụt vốn và gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh trơn tru (Horne và Wachowicz (2000)).
Quản lý hiệu quả vốn lưu động là một phần cơ bản trong chiến lược kinh doanh tổng thể trong việc tạo ra giá trị cho cổ đông. Do đó, các công ty cố gắng giữ mức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vốn lưu động tối ưu để tối đa hóa giá trị của họ (Abdul Raheman and Mohamed Nasr - 2007, Working Capital Management And Profitability – Case Of Pakistani Firms). Như vậy có thể thấy quản trị vốn lưu động có vai trò rất lớn trong hoạt động của một doanh nghiệp. Quản trị nguồn vốn lưu động có thể coi như một hoạt động đầu tư, liên quan đến sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro vì nó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Các quyết định của công ty có xu hướng tăng lợi nhuận dẫn đến tăng rủi ro và ngược lại, các quyết định tập trung vào giảm rủi ro sẽ dẫn đến giảm lợi nhuận tiềm năng. Trong đó, mục tiêu chính của quản trị vốn lưu động là để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, dựa trên cơ ở giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán tron ngắn hạn. Một phần quan trọng của việc quản lý vốn lưu động là duy trì tính thanh khoản trong hoạt động hàng ngày để đảm bảo hoạt động trơn tru và đáp ứng các nghĩa vụ của nó (Eljelly (2004) – trích dẫn tại Abdul Raheman and Mohamed Nasr (2007)). Để đo lường khả năng thanh khoản thể hiện hiệu quả của việc quản lý vốn lưu động, thì chỉ tiêu phổ biến mà các nhà quản trị thường sử dụng là chu kỳ luân chuyển tiền mặt (Marc Deloof (2003)).
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt của doanh nghiệp có thể được hiểu là thời gian từ lúc công ty mua nguyên vật liệu, sản xuất và chuyển bán thành phẩm cho đến khi thu được tiền: Chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) = Thời gian thu tiền bình quân (AR) + Thời gian tồn kho bình quân (INV) – Thời gian thanh toán bình quân (AP) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. 1: Chu kỳ luân chuyển tiền mặt của doanh nghiệp Nguồn: Ross, Westerfield, Jaffe (2002) Các công ty có thể đạt được sự quản lý tối ưu vốn lưu động bằng cách đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản. Như vậy có thể thấy, quản trị vốn lưu động bao gồm việc quản trị các khoản phải thu, quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải trả và quản trị tiền mặt. Quản trị khoản phải thu: là quá trình đảm bảo chất lượng thu hồi nợ của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của chính doanh nghiệp bằng cách cung cấp các chính sách tín dụng với người mua.
Với các chính sách nới lỏng cấp tín dụng cho người mua, các doanh nghiệp sẽ trực tiếp kích thích nhu cầu dự trữ hàng hóa của phía đối tác đầu ra, tuy nhiên phải có sự cân nhắc và lựa chọn kĩ lưỡng nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn.