Chương 1 của luận văn, tác giả đã đưa ra định hướng nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu với những công cụ cần thiết. Với các phần tiếp theo của luận văn, tác giả sẽ từng bước triển khai, làm rõ mục tiêu ban đầu. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU Nội dung chính của chương là tổng quan lý thuyết về vốn luân chuyển, hiệu quả quản trị tài chính, các khung lý thuyết được xây dựng nhằm giải thích vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị tài chính. Trên cơ sở khung lý thuyết được tóm tắt, tác giả đã tiến hành tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vốn luân chuyển tác động đến hiệu quả quản trị tài chính của các công ty trên thế giới và nghiên cứu tại Việt Nam.1 Lý thuyết về vốn luân chuyển và hiệu quả sinh lời của doanh nghiệp: 2.1 Khái niệm Vốn luân chuyển là khái niệm khá phổ biến trong tài chính và ngày càng được các nhà quản trị chú trọng, nhờ những lợi ích và tầm ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của danh nghiệp.
Teruel và Solano (2006) hay Brigham và Houston (2007) định nghĩa vốn luân chuyển hay tổng vốn luân chuyển (Gross working capital) là tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, bao gồm: tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, các tài sản ngắn hạn khác ,… được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Một khía cạnh khác, vốn luân chuyển được hiểu là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty được chuyển hóa qua tất cả các dạng – tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về trạng thái ban đầu là tiền mặt (Richards và Laughlin, 1980). Vốn luân chuyển thường được sử dụng để đo lường tính thanh khoản của một công ty. Tính thanh khoản là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo rằng công ty có thể đáp ứng hoặc thanh toán các nghĩa vụ nợ trong ngắn hạn.
Việc thiếu hụt vốn luân chuyển hoặc vốn luân chuyển âm có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn và phá sản. Tuy nhiên, tính thanh khoản quá cao có thể gây lãng phí nguồn lực, làm giảm khả năng sinh lời của các tài sản.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng vốn luân chuyển Theo Richards và Laughlin (1980) thì chỉ tiêu đo lường hiệu quả của vốn luân chuyển là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash Conversion Cycle - CCC), chỉ tiêu này đề 7 cập đến khoảng thời gian từ lúc mua nguyên vật liệu, chuyển đổi thành thành phẩm, bán sản phẩm và thu tiền khách hàng. Các doanh nghiệp có chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn sẽ ít phải đầu tư vào vốn luân chuyển hơn và do vậy, chi phí tài trợ của những doanh nghiệp thường sẽ thấp hơn. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt được tính toán theo công thức sau: CCC = ACP + ICP – APP Trong đó: CCC: Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (ngày) ACP: Số ngày thu tiền bình quân ICP: Số ngày tồn kho bình quân APP: Số ngày trả tiền bình quân Thành phần của vốn luân chuyển bao gồm: các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả; vì vậy tác động của vốn luân chuyển cũng chính là tác động của từng thành phần này.
Vốn luân chuyển được mô tả tốt nhất bằng chu kỳ chuyển đổi tiền nên các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đều xây dựng mô hình để tìm ra mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của chu kỳ chuyển đổi tiền với hiệu quả tài chính của công ty. Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn, sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp như đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển sẽ làm giảm rủi ro thanh khoản, nhưng làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển. Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Thế nên, quyết định đầu tư bao nhiêu vào các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và bao nhiêu cho tín dụng thương mại từ nhà cung cấp được phản ánh trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt – biểu thị cho số ngày trung bình từ khi công ty thanh toán cho nhà cung cấp đến khi công ty thu hết tiền nợ của khách hàng.
Như vậy, chỉ tiêu đo lường của vốn luân chuyển là kỳ luân chuyển tiền (Cash Conversion Cycle – CCC). 8 Mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền và chu kỳ kinh doanh được diễn tả trong Hình 2.1 sau đây (Richards và Laughlin, 1980) : Nguồn: Theo Richards và Laughlin, 1980 Hình 2. 1 Chu kỳ kinh doanh Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) Theo Jose và cộng sự (1996), khái niệm “chu kỳ chuyển đổi tiền mặt” lần đầu được giới thiệu bởi Gitman (1974) được xem là một chỉ tiêu linh hoạt về khả năng thanh toán so với các chỉ tiêu truyền thống. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt thể hiện khoảng thời gian từ lúc chi tiền mua nguyên vật liệu từ nhà cung cấp cho đến khi thu tiền tiêu thụ sản phẩm từ khách hàng.
Gitman cho rằng, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt là chỉ tiêu linh hoạt, ý nghĩa hơn các chỉ tiêu trước đây vì nó đứng trên quan điểm về dòng tiền thông qua việc sử dụng dữ liệu từ cả bảng cân đối kế toán và báo cáo hoạt động kinh doanh tạo nên một thước đo về thời gian. Nói cách khác, thước đo này dùng để đo lường tình hình về khả năng thanh toán bằng tiền mặt của công ty và vốn luân chuyển được quản lý hiệu quả như thế nào (Deloof, 2003). Kết quả cho thấy số ngày trung bình mà nguồn vốn nằm trong vốn luân chuyển chuyển thành tiền mặt trong một chu kỳ kinh doanh (Rimo và Panbunyuen, 2010). Số ngày thu tiền bình quân (ACP) Số ngày thu tiền bình quân được sử dụng như thước đo của chính sách thu nợ khách hàng.
Nó thể hiện số ngày trung bình mà công ty chờ đợi để nhận các khoản thanh toán từ khách hàng. Thước đo này được tính bằng cách chia thương số của trung bình khoản phải thu đầu và cuối năm với doanh thu thuần. Và sau đó nhân kết quả với 9 số ngày trung bình của năm. Tương tự như hàng tồn kho, số ngày này thấp thì rất tốt để giữ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn (Rimo và Panbunyuen, 2010).
Deloof (2003) tiếp tục cho thấy mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê giữa số ngày trung bình khoản phải thu và lợi nhuận gộp từ hoạt động. Số ngày tồn kho bình quân Số ngày tồn kho bình quân đại diện cho thời gian mà hàng tồn kho của công ty được lưu giữ trước bán hàng. Để giúp rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, số ngày trung bình hàng tồn kho này càng ngắn càng tốt. Số ngày trung bình hàng tồn kho được tính bằng cách lấy bình quân hàng tồn kho đầu năm và cuối năm.
Sau đó, lấy giá trị trung bình hàng tồn kho đem chia cho giá vốn hàng bán. Để có được kết quả theo số ngày, giá trị vừa tính phải được nhân với số ngày trung bình 1 năm là 365 ngày (Rimo và Panbunyuen, 2010). Deloof (2003) nhận thấy có mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê giữa số ngày hàng tồn kho và lợi nhuận gộp từ hoạt động (gross operating income), như thước đo của khả năng sinh lợi. Điều này giải thích rằng sự gia tăng số ngày lưu kho của hàng phản ảnh qua việc giảm doanh thu dẫn đến lợi nhuận công ty giảm.
Số ngày trả tiền bình quân Số ngày trả tiền bình quân được sử dụng như thước đo của chính sách trả nợ nhà cung cấp. Nó thể hiện số ngày trung bình mà công ty sẽ thanh toán cho những nhà cung cấp. Trong khi hai thước đo trước cần phải giữ ở mức thấp thì số ngày khoản phải trả dài sẽ có lợi trong việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Rimo và Panbunyuen, 2010). Nghiên cứu của Deloof (2003) cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa số ngày trung bình khoản phải trả và khả năng sinh lợi.
Điều này chỉ ra rằng khả năng sinh lợi có tác động đến chính sách trả nợ nhà cung cấp bởi vì một công ty có lợi nhuận hạn chế sẽ kéo dài thời gian thanh toán. Trong trường hợp của những công ty ở Bỉ, những nhà cung cấp đề nghị chiết khấu lâu dài đối với những khách hàng thanh toán ngay bằng tiền mặt, và điều đó làm gia tăng lợi nhuận của công ty (Deloof, 2003) .3 Quan niệm về hiệu quả và hiệu quả sinh lợi trên phƣơng diện tài chính của doanh nghiệp 2.1 Quan niệm về hiệu quả 1 Theo cách hiểu phổ biến nhất, hiệu quả của bất kỳ hoạt động kinh tế nào đều được phản ánh qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Một hoạt động kinh tế có hiệu quả có nghĩa là cùng một lượng đầu ra nhưng cần ít hơn lượng chi phí đầu vào, hoặc theo cách khác, cùng một lượng chi phí đầu vào nhưng sản xuất được nhiều đầu ra hơn. Theo Adam (1776) "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá".
Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Theo Phạm Quang Sáng (2011), hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể với chi phí mà chủ thể bỏ ra để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Theo Lê Thanh Ngọc (2014) , hiệu quả thể hiện sự tác động tới các quan hệ liên quan, làm cho các quan hệ này thay đổi theo hướng tích cực, với một chi phí thấp nhất.2Quan niệm về hiệu quả sinh lợi của doanh nghiệp trên phƣơng diện tài chính Theo Chakravarthy (1986), khái niệm của hiệu quả sinh lợi trên phương diện tài chính tức là tối đa hoá thu nhập, tối thiểu hoá chi phí, từ đó làm tối đa hoá lợi nhuận trên tổng tài sản doanh nghiệp và tối đa hoá lợi nhuận mang lại cho các cổ đông góp vốn của doanh nghiệp.