Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Tác động của nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính và sự ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh dưới cách tiếp cận tổng thể – Bằng chứng tại doanh nghiệp sản xuất Phía Nam Việt Nam” do nghiên cứu sinh Lê Hoàng Oanh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Trực, PGS.TS. Trần Anh Hoa và TS. Đoàn Ngọc Quế, hoàn thành vào tháng 9 năm 2021. Luận án thuộc chuyên ngành Kế toán, tập trung nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực kế toán quản trị và hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQHĐKD).

Tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh kinh tế Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về tự do hóa thương mại như tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định rõ vị thế, mục tiêu chiến lược và kết quả hoạt động. Hệ thống đo lường HQHĐKD truyền thống chủ yếu dựa vào các thước đo tài chính ngắn hạn, thiếu tính chiến lược và không phản ánh kịp thời nguyên nhân dẫn đến kết quả kinh doanh. Việc vận dụng kết hợp thước đo tài chính và phi tài chính được xác định là giải pháp cung cấp thông tin toàn diện hơn cho nhà quản trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế trước đây cho thấy kết quả mâu thuẫn về lợi ích thực tế của việc tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đối với HQHĐKD. Lý thuyết bất định chỉ ra rằng không có một hệ thống đo lường duy nhất phù hợp cho mọi tổ chức trong mọi hoàn cảnh, mà việc thiết kế hệ thống phải tương thích với các nhân tố ngữ cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp.

Từ sự thiếu nhất quán này, tác giả xác định ba khoảng trống nghiên cứu cụ thể:

  1. Chưa có công trình nào khảo sát mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong hệ thống đo lường HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam.
  2. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào kiểm định tác động của các nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong hệ thống đo lường HQHĐKD; đồng thời các nghiên cứu nước ngoài về mối quan hệ này đưa ra kết quả chưa đồng thuận.
  3. Các nghiên cứu trên thế giới xem xét ảnh hưởng của sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đến HQHĐKD dưới cách tiếp cận tổng thể (systems approach) còn rất hạn chế.

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính và ảnh hưởng của sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đến HQHĐKD dưới cách tiếp cận tổng thể tại các doanh nghiệp sản xuất hoạt động tại Phía Nam Việt Nam.

Bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Nhận diện các nhân tố bất định có thể có ảnh hưởng đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam.
  2. Khảo sát thực trạng thiết kế hệ thống đo lường HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam (nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thứ nhất).
  3. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam (nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thứ hai).
  4. Đo lường mức độ ảnh hưởng của sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đến HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam dưới cách tiếp cận tổng thể (nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thứ ba).

Tương ứng với các mục tiêu trên, bốn câu hỏi nghiên cứu được văn bản đặt ra:

  1. Các nhân tố chính nào có thể có ảnh hưởng đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam? Qua đó, xác định mô hình nghiên cứu nên được xây dựng như thế nào để kiểm định tác động của các nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính và ảnh hưởng của sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đến HQHĐKD tại các doanh nghiệp này?
  2. Thực trạng hệ thống đo lường HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam đang được thiết kế như thế nào?
  3. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam như thế nào?
  4. Sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính có ảnh hưởng như thế nào đến HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam dưới cách tiếp cận tổng thể?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm hai nhóm: (1) Các nhân tố bất định tác động đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính của doanh nghiệp; (2) Ảnh hưởng của sự phù hợp (giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính) đến HQHĐKD của doanh nghiệp. Đơn vị phân tích là doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Phạm vi không gian: Giới hạn tại các doanh nghiệp sản xuất có quy mô vừa và lớn đang hoạt động tại các tỉnh, thành phố Phía Nam Việt Nam, tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận gồm Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là những địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021; thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi khảo sát diễn ra từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 10 năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện hệ thống hóa các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống đo lường HQHĐKD qua bốn giai đoạn lịch sử:

  1. Giai đoạn trước năm 1980: Tập trung vào các thước đo tài chính truyền thống (ROI, ROE, NPV, hệ thống kế toán chi phí truyền thống).
  2. Giai đoạn những năm 1980: Thước đo phi tài chính bắt đầu được chú ý nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định, gắn liền với các công cụ như giá trị kinh tế tăng thêm (EVA), hệ thống kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) và quản trị dựa trên hoạt động (ABM).
  3. Giai đoạn những năm 1990: Xuất hiện nhiều hệ thống và mô hình tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính, bao gồm Hệ thống phân tích đo lường chiến lược và kỹ thuật báo cáo SMART (Lynch & Cross, 1991; McNair et al., 1990), Bảng câu hỏi đo lường HQHĐKD PMQ (Dixon et al., 1990), Ma trận kết quả và quyết định (Fitzgerald et al., 1991; Fitzgerald & Moon, 1996), Thẻ điểm cân bằng BSC (Kaplan & Norton, 1992, 1996a), và Hệ thống đo lường HQHĐKD tích hợp IPMS (Bititci et al., 1997).
  4. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Cải tiến các mô hình đo lường theo hướng năng động và đa chiều hơn, gồm Quy trình đo lường Cambridge (Neely et al., 2000; Bourne et al., 2000), Hệ thống đo lường HQHĐKD năng động DPMS (Bititci et al., 2000), Bảng điểm kinh doanh so sánh CBSC (Kanji & Mours e Sá, 2002), Lăng kính HQHĐKD (Neely et al., 2002), và Hệ thống điểm chuẩn HQHĐKD, phát triển và tăng trưởng (St-Pierre & Delisle, 2006).

Song song đó, tác giả phân loại các công trình nghiên cứu về hệ thống đo lường HQHĐKD theo năm dòng nghiên cứu: nhận diện vấn đề (những năm 1980), đề xuất hệ thống/mô hình (những năm 1990), phương pháp ứng dụng (cuối thập niên 1990), phân tích lý thuyết và phương pháp tác động, và kiểm định thực nghiệm theo lý thuyết bất định.

Khi điểm lại các công trình nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về tác động của nhân tố bất định đến hệ thống đo lường HQHĐKD và HQHĐKD, luận án phân tích dựa trên ba cách tiếp cận đối với khái niệm sự phù hợp theo phân loại của Van de Ven & Drazin (1984):

Cách tiếp cận Công trình tiêu biểu Nhân tố bất định nghiên cứu Đối tượng khảo sát Nhận xét và giới hạn của hướng nghiên cứu
Sự chọn lọc (Selection approach) Hoque et al. (2001); Demers et al. (2006); Henri (2006); Perera & Baker (2007); Jusoh (2010); Ahmad (2012); Rikhardsson et al. (2014) Mức độ cạnh tranh, công nghệ sản xuất, cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, quy mô, nhận thức không chắc chắn về môi trường Doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tại New Zealand, Canada, Úc, Malaysia, Iceland Chỉ khảo sát mối quan hệ giữa biến ngữ cảnh và đặc điểm hệ thống đo lường; không kiểm định tác động của sự phù hợp này đến HQHĐKD của doanh nghiệp.
Sự tương tác (Interaction approach) Ittner et al. (2003b); Stede et al. (2006); Lee & Yang (2011); Mohamad et al. (2013); Länsiluoto et al. (2019) Chiến lược kinh doanh, cơ cấu tổ chức, mức độ cạnh tranh, văn hóa doanh nghiệp, quy mô, định hướng thị trường Doanh nghiệp dịch vụ tài chính, doanh nghiệp sản xuất tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Đài Loan, Malaysia Xem xét sự tương tác của từng cặp biến đơn lẻ (nhân tố bất định × hệ thống đo lường) đến HQHĐKD; chưa phản ánh được tính phức tạp của môi trường đa biến ngữ cảnh.
Tổng thể (Systems approach) Được đề xuất bởi Van de Ven & Drazin (1984); Venkatraman (1989) Đa nhân tố ngữ cảnh bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Rất ít công trình thực nghiệm áp dụng cho hệ thống đo lường HQHĐKD Xem xét tính nhất quán nội bộ đồng thời giữa toàn bộ tập hợp các biến bất định và hệ thống đo lường tác động đến HQHĐKD.

Luận án khẳng định vị trí học thuật bằng việc khắc phục triệt để khoảng trống của hai cách tiếp cận trước: không dừng lại ở việc xem xét đơn lẻ các cặp biến như tiếp cận chọn lọc hay tương tác, mà vận dụng cách tiếp cận tổng thể để đánh giá đồng thời tác động của tập hợp đa biến bất định kết hợp với mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính lên HQHĐKD tại bối cảnh thực tiễn của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng nền tảng lý luận dựa trên Lý thuyết bất định (Contingency Theory) áp dụng trong hệ thống kiểm soát quản lý và hệ thống kế toán quản trị (Fisher, 1995; Otley, 1980; Merchant, 1998). Nội dung cốt lõi của lý thuyết bất định khẳng định không có một hệ thống kế toán quản trị hay hệ thống đo lường HQHĐKD nào được coi là tối ưu cho mọi doanh nghiệp trong mọi tình huống. Hiệu quả của hệ thống phụ thuộc vào mức độ tương thích giữa đặc điểm thiết kế hệ thống và các nhân tố ngữ cảnh bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp.

Luận án sử dụng các khung phân tích và khái niệm học thuật cụ thể:

  • Khái niệm sự phù hợp theo cách tiếp cận tổng thể: Dựa trên nghiên cứu của Van de Ven & Drazin (1984) và Venkatraman (1989), sự phù hợp được hiểu là sự biến thiên cùng nhau hoặc tính nhất quán nội bộ giữa một tập hợp nhiều biến số tiềm ẩn. Trong mô hình cấu trúc, sự phù hợp được đo lường thông qua cấu trúc bậc hai dạng nguyên nhân.
  • Khung văn hóa doanh nghiệp: Vận dụng Mô hình giá trị cạnh tranh (Competing Values Framework - CVF) của Quinn & Rohrbaugh (1983), tập trung vào loại hình văn hóa chú trọng giá trị linh hoạt.
  • Khung chiến lược kinh doanh: Dựa trên phân loại của Porter và Miles & Snow (1978), phân tách thành chiến lược dẫn đầu về giá thấp và chiến lược tạo nét khác biệt.
  • Khung định hướng thị trường: Dựa trên nghiên cứu của Narver & Slater (1990) gồm định hướng khách hàng, định hướng đối thủ cạnh tranh và phối hợp liên chức năng.
  • Hệ thống đo lường HQHĐKD tích hợp (IPM): Kế thừa cấu trúc thang đo của Ittner et al. (2003b), đo lường mức độ tích hợp các thước đo tài chính và phi tài chính ở 4 mục tiêu quản trị: (1) thiết lập mục tiêu chiến lược; (2) đánh giá các dự án đầu tư vốn lớn; (3) đánh giá kết quả quản lý; (4) nhận diện vấn đề, cơ hội cải tiến và phát triển kế hoạch hành động.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng theo quy trình suy diễn khoa học (Churchill, 1979; Nguyễn Đình Thọ, 2013):

  • Phương pháp định tính: Thực hiện thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu với các chuyên gia gồm kế toán trưởng, giám đốc tài chính, nhà quản trị cấp cao và giảng viên chuyên ngành kế toán quản trị. Bước này phục vụ việc sàng lọc 7 nhân tố bất định từ lý thuyết ban đầu, hiệu chỉnh thang đo nháp cho phù hợp với môi trường doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam, đồng thời khám phá thêm một nhân tố mới là “sự tham gia của kế toán trong quy trình ra quyết định chiến lược”.
  • Phương pháp định lượng sơ bộ: Thực hiện trên mẫu khảo sát thử nghiệm nhằm đánh giá sơ bộ độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  • Phương pháp định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc gửi tới các cá nhân am hiểu hệ thống đo lường tại các doanh nghiệp sản xuất. Dữ liệu sơ cấp chính thức gồm 257 quan sát hợp lệ từ 257 doanh nghiệp sản xuất vừa và lớn tại Phía Nam Việt Nam, thu thập qua hai đợt (đợt 1 từ ngày 02/03/2019 đến 24/07/2019 thu được 206 mẫu; đợt 2 từ ngày 16/09/2020 đến 25/10/2020 thu thêm 51 mẫu). Đối tượng trả lời bảng hỏi là trưởng/phó phòng kế toán, kế toán viên kế toán quản trị, nhà quản lý cấp trung/cấp cao, kiểm soát viên, phân tích viên tài chính hoặc kiểm toán nội bộ có thâm niên công tác từ 1,5 năm trở lên tại doanh nghiệp.
  • Kỹ thuật và công cụ phân tích dữ liệu: Luận án áp dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) được hỗ trợ bởi phần mềm SmartPLS 3. Kỹ thuật này phù hợp với mô hình phức tạp gồm nhiều cấu trúc bậc cao và cỡ mẫu bị giới hạn. Biến “sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính” được thiết lập là biến tiềm ẩn bậc hai. Nghiên cứu thực hiện kiểm soát hiện tượng chệch do phương pháp chung (Common Method Bias - CMB) bằng kiểm định đơn nhân tố Harman và kỹ thuật biến đánh dấu (Marker variable technique), kiểm tra đa cộng tuyến qua chỉ số VIF, kiểm định tính hội tụ qua AVE, độ tin cậy tổng hợp CR và kiểm định giá trị phân biệt bằng chỉ số HTMT, tiêu chuẩn Fornell-Larcker và trọng số nhân tố chéo.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Chương 1 khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống đo lường HQHĐKD qua 4 giai đoạn, từ các thước đo tài chính đơn lẻ đến các hệ thống đo lường tích hợp đa chiều. Tác giả phân tích chi tiết ưu điểm và hạn chế của 10 hệ thống, mô hình đo lường tiêu biểu (SMART, PMQ, Ma trận kết quả & quyết định, BSC, IPMS, Cambridge, DPMS, CBSC, Lăng kính HQHĐKD, Hệ thống điểm chuẩn). Tiếp đó, chương điểm luận các công trình quốc tế theo 3 cách tiếp cận khái niệm sự phù hợp của Van de Ven & Drazin (1984), chỉ ra rằng hướng tiếp cận chọn lọc bỏ qua mối liên hệ với HQHĐKD, còn hướng tiếp cận tương tác chỉ dừng lại ở từng cặp biến đơn lẻ. Tác giả tổng quan các nghiên cứu trong nước, rút ra kết luận các nghiên cứu tại Việt Nam chưa khảo sát mức độ tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong doanh nghiệp sản xuất, cũng như chưa kiểm định các mối quan hệ bất định dưới cách tiếp cận tổng thể, từ đó thiết lập 3 khoảng trống nghiên cứu then chốt.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 làm rõ các định nghĩa nền tảng về HQHĐKD, hệ thống đo lường HQHĐKD và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính. Tác giả trình bày bản chất của lý thuyết bất định áp dụng vào hệ thống kiểm soát quản lý và hệ thống đo lường HQHĐKD theo Merchant (1998) và Otley (1980). Dựa trên phân tích 3 cách tiếp cận khái niệm sự phù hợp, chương luận giải lý do lựa chọn cách tiếp cận tổng thể để xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu. Mô hình này bao gồm 7 nhóm biến bất định lý thuyết: nhận thức không chắc chắn về môi trường, cơ cấu tổ chức, chiến lược kinh doanh, mức độ cạnh tranh, văn hóa doanh nghiệp (dựa trên mô hình CVF của Quinn & Rohrbaugh, 1983), định hướng thị trường, cùng công nghệ sản xuất hiện đại và công nghệ quản trị hiện đại.

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng. Từ kết quả nghiên cứu định tính, tác giả hoàn thiện mô hình nghiên cứu chính thức: sàng lọc giữ lại 7 nhân tố bất định ban đầu, loại bỏ biến công nghệ và khám phá bổ sung 1 nhân tố mới là “sự tham gia của kế toán trong quy trình ra quyết định chiến lược”. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng 9 nhóm giả thuyết nghiên cứu (tập giả thuyết 1 gồm 8 giả thuyết từ H1 đến H8 kiểm định tác động của các nhân tố bất định đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính; tập giả thuyết 2 là giả thuyết H9 kiểm định tác động của sự phù hợp tổng thể đến HQHĐKD). Chương này thiết lập thang đo chi tiết cho 10 khái niệm nghiên cứu, phân tích đặc thù của doanh nghiệp sản xuất vừa và lớn tại Phía Nam, đồng thời trình bày quy trình chọn mẫu, công cụ phân tích PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 3 và phương pháp mô hình hóa biến tiềm ẩn bậc hai.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm từ nghiên cứu sơ bộ đến nghiên cứu chính thức trên 257 doanh nghiệp sản xuất. Thống kê mô tả chỉ ra thực trạng thiết kế hệ thống đo lường: các thước đo tài chính, vận hành, chất lượng sản phẩm – dịch vụ và nhân viên có mức độ quan trọng cao nhất và được vận dụng nhiều nhất cho cả việc lập mục tiêu chiến lược lẫn đánh giá – ra quyết định; trong khi các thước đo khách hàng, nhà cung cấp, đổi mới sản phẩm và trách nhiệm xã hội ít được sử dụng hơn trong đánh giá – ra quyết định.

Kiểm định mô hình đo lường cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ (CR > 0,7; AVE > 0,5), đạt giá trị phân biệt (chỉ số HTMT và Fornell-Larcker thỏa mãn điều kiện), không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng (VIF thỏa mãn) và không bị ảnh hưởng bởi chệch phương pháp chung (CMB).

Kiểm định mô hình cấu trúc mang lại các phát hiện thực nghiệm cốt lõi:

  • Mô hình tác động của các nhân tố bất định giải thích được 60,7% phương sai của mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính ($R^2 = 0,607$). Hầu hết các nhân tố gồm: cơ cấu tổ chức phân quyền, chiến lược tạo nét khác biệt, quy mô doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh, văn hóa chú trọng giá trị linh hoạt, định hướng thị trường và sự tham gia của kế toán trong quy trình ra quyết định chiến lược đều có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, chiến lược dẫn đầu về giá thấp và nhận thức không chắc chắn về môi trường không có tác động có ý nghĩa thống kê.
  • Mô hình sự phù hợp theo cách tiếp cận tổng thể giải thích được khoảng 50% phương sai của biến HQHĐKD ($R^2 \approx 0,50$). Khi doanh nghiệp duy trì sự phù hợp đồng thời giữa các nhân tố bất định nêu trên và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính thì HQHĐKD được nâng cao rõ rệt.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Chương 5 đúc kết các kết luận nghiên cứu chính, đối chiếu với các mục tiêu đã đề ra. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất hệ thống hàm ý quản trị dành cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất khi thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động: cần chủ động phân quyền quản lý, định hình văn hóa linh hoạt, phát huy vai trò của kế toán trong hoạch định chiến lược, và mở rộng tích hợp các chỉ tiêu phi tài chính theo đuổi chiến lược khác biệt hóa. Chương cũng tổng kết các đóng góp học thuật về mặt lý thuyết và phương pháp luận, đồng thời nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng các đề tài nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về việc áp dụng lý thuyết bất định vào thiết kế hệ thống đo lường HQHĐKD tại Việt Nam – một nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á, góp phần tổng quát hóa mô hình lý thuyết vốn trước đây chủ yếu được kiểm định tại các quốc gia phát triển.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm kiểm định ảnh hưởng của sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính đến HQHĐKD dưới cách tiếp cận tổng thể (systems approach), giải thích được khoảng 50% sự biến thiên của HQHĐKD.
  • Là công trình nghiên cứu đầu tiên phát hiện và kiểm định thành công tác động tích cực của nhân tố “sự tham gia của kế toán trong quy trình ra quyết định chiến lược” đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong doanh nghiệp.
  • Xác định mô hình các nhân tố bất định có khả năng dự báo giải thích đạt 60,7% mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất, đồng thời chứng minh chiến lược dẫn đầu giá thấp và nhận thức không chắc chắn về môi trường không phải là động cơ thúc đẩy sự tích hợp này.

Về mặt thực tiễn và kiến nghị, giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về hệ thống đo lường HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam, chỉ ra sự thiên lệch khi các chỉ tiêu trách nhiệm xã hội, đổi mới và quan hệ nhà cung cấp chưa được khai thác tương xứng với tầm quan trọng dài hạn.
  • Đưa ra các hàm ý quản trị cụ thể nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất:
    1. Chuyển dịch từ việc sử dụng đơn lẻ thước đo tài chính truyền thống sang thiết kế hệ thống đo lường tích hợp cân bằng giữa tài chính và phi tài chính.
    2. Thiết kế hệ thống đo lường phải căn cứ vào ngữ cảnh cụ thể: doanh nghiệp theo đuổi chiến lược tạo nét khác biệt, có cơ cấu phân quyền và văn hóa chú trọng tính linh hoạt cần mức độ tích hợp thước đo cao hơn.
    3. Nâng cao vị thế và vai trò của bộ phận kế toán quản trị, tạo điều kiện để nhân sự kế toán tham gia trực tiếp vào quy trình ra quyết định chiến lược, từ đó nâng cao chất lượng thông tin của hệ thống đo lường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế nghiên cứu cụ thể:

  • Về phạm vi đối tượng và không gian: Mẫu khảo sát chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và lớn tại một số tỉnh thành thuộc khu vực Phía Nam Việt Nam, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Do đó, việc khái quát hóa kết quả nghiên cứu cho toàn bộ các loại hình doanh nghiệp khác (doanh nghiệp nhỏ, thương mại, dịch vụ) hoặc các khu vực địa lý khác cần có sự thận trọng.
  • Về phương pháp thu thập dữ liệu: Luận án sử dụng dữ liệu cắt ngang tại một thời điểm, chưa theo dõi được sự thay đổi của hệ thống đo lường và HQHĐKD theo chuỗi thời gian hay qua các giai đoạn biến động kinh tế.
  • Về đo lường HQHĐKD: Biến HQHĐKD được thu thập qua nhận định chủ quan của người trả lời bảng hỏi, chưa kết hợp được với dữ liệu thứ cấp định lượng từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Mở rộng nghiên cứu sang các ngành dịch vụ, thương mại và các doanh nghiệp quy mô nhỏ tại Việt Nam.
  • Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát ra khu vực Miền Bắc và Miền Trung, hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh đa quốc gia.
  • Áp dụng thiết kế nghiên cứu theo thời gian (longitudinal study) để kiểm chứng tính bền vững của mối quan hệ nhân quả.
  • Kết hợp đo lường HQHĐKD bằng cả dữ liệu nhận thức và dữ liệu tài chính công khai từ báo cáo tài chính.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kế toán quản trị và Quản trị kinh doanh: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, cung cấp quy trình kết hợp định tính và định lượng chặt chẽ. Đặc biệt, chương 1 và chương 2 cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện về lý thuyết bất định và các thế hệ mô hình đo lường hiệu quả. Kỹ thuật phân tích PLS-SEM xử lý biến tiềm ẩn bậc hai theo cách tiếp cận tổng thể là hình mẫu phương pháp đáng tham khảo cho các đề tài cùng hướng nghiên cứu.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, giám đốc điều hành (CEO), giám đốc tài chính (CFO) và kế toán trưởng tại các doanh nghiệp sản xuất: Luận án cung cấp cơ sở thực nghiệm rõ ràng để xem xét lại hệ thống đánh giá thành quả nội bộ. Phần hàm ý quản trị tại chương 5 hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện các nhân tố ngữ cảnh của chính mình để xây dựng hệ thống thước đo phù hợp, khắc phục nhược điểm của việc quản lý thuần túy bằng số liệu tài chính quá khứ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Quy mô mẫu khảo sát chính thức của luận án là bao nhiêu và đối tượng trả lời bảng hỏi gồm những ai?
    Dữ liệu định lượng chính thức được thu thập từ 257 cá nhân đại diện cho 257 doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và lớn đang hoạt động tại khu vực Phía Nam Việt Nam (gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu). Đối tượng khảo sát là trưởng/phó phòng kế toán, kế toán viên kế toán quản trị, nhà quản lý cấp trung/cấp cao, kiểm soát viên, phân tích viên tài chính hoặc kiểm toán nội bộ có kiến thức về hệ thống đo lường HQHĐKD và có thời gian công tác tại doanh nghiệp ít nhất 1,5 năm.

  2. Nhân tố mới nào được khám phá từ nghiên cứu định tính và kết quả kiểm định định lượng ra sao?
    Nghiên cứu định tính đã phát hiện nhân tố mới là “sự tham gia của kế toán trong quy trình ra quyết định chiến lược”. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc PLS-SEM tại nghiên cứu chính thức xác nhận nhân tố này có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong doanh nghiệp sản xuất.

  3. Những nhân tố bất định nào không có tác động đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính trong mô hình nghiên cứu?
    Trong số các nhân tố bất định được đưa vào mô hình cấu trúc, có hai nhân tố được xác định là không có tác động có ý nghĩa thống kê đến mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính, đó là: (1) Chiến lược dẫn đầu về giá thấp và (2) Nhận thức không chắc chắn về môi trường.

  4. Thực trạng sử dụng các thước đo hiệu quả tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam được thống kê mô tả như thế nào?
    Kết quả thống kê mô tả cho thấy các thước đo tài chính, vận hành, chất lượng sản phẩm – dịch vụ và nhân viên được đánh giá là quan trọng nhất và được nhà quản trị sử dụng nhiều nhất cho cả việc thiết lập mục tiêu chiến lược lẫn các mục đích đánh giá – ra quyết định. Ngược lại, các thước đo phi tài chính về khách hàng, nhà cung cấp, đổi mới sản phẩm – dịch vụ và trách nhiệm xã hội dù được thừa nhận là quan trọng đối với sự thành công dài hạn nhưng chỉ được quan tâm ở mức vừa phải khi lập mục tiêu chiến lược và rất ít khi được vận dụng trong công tác đánh giá – ra quyết định.

  5. Luận án mô hình hóa khái niệm sự phù hợp theo cách tiếp cận tổng thể như thế nào trong phân tích PLS-SEM?
    Dựa trên đề xuất của Venkatraman (1989), tác giả thiết lập biến “sự phù hợp giữa các nhân tố bất định và mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính” là một khái niệm tiềm ẩn bậc hai dạng nguyên nhân. Biến này phản ánh sự biến thiên cùng nhau và tính nhất quán nội bộ giữa tập hợp các khái niệm tiềm ẩn bậc một, từ đó kiểm định tác động trực tiếp của biến cấu trúc bậc hai này lên biến HQHĐKD với hệ số xác định $R^2 \approx 50%$.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Hoàng Oanh đã giải quyết trọn vẹn bốn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc vận dụng lý thuyết bất định dưới cách tiếp cận tổng thể để đánh giá hệ thống đo lường HQHĐKD tại các doanh nghiệp sản xuất Phía Nam Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định mức độ vận dụng tích hợp thước đo tài chính – phi tài chính chịu sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố ngữ cảnh với mức độ giải thích đạt 60,7%, đồng thời duy trì sự tương thích tổng thể giữa các nhân tố này với hệ thống đo lường sẽ giúp cải thiện khoảng 50% hiệu quả hoạt động của tổ chức. Công trình đóng góp bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho chuyên ngành kế toán quản trị tại Việt Nam, cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà quản trị doanh nghiệp tái thiết kế hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động phù hợp với bối cảnh kinh doanh hiện đại.