Chương 1: Cơ sở lý luận - Chương 2: Thiết kế nghiên cứu ết quả nghiên cứu và bàn luận ' Viễtắt từ Eive Faelor Model: Mô hình này sẽ được giải thích rõ hơn ở phẫn sau 6. Tong quan tài Để cung cấp một cái nhìn tông thể về vấn đề được nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu tiếu biểu có liên quan đến vấn đề tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Tài liệu 1: Nghiên cứu của Ross và cộng sự (2009). Nghiên cứu này ngoài việc nghiên cứu về tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả còn thêm vào mô hình yếu tố động lực giao tiếp.
Ross và cộng sự đã sử dụng mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM để nghiên cứu về nhân cách. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phát triển bản câu hỏi 28 item để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook với nội dung liên quan đến việc sử dụng cơ bản của Facebook, thái độ liên quan và việc đăng tải thông tin cá nhân khi sử dụng mạng xã hội này. Kết quả Những người có nhân cách cởi mở” cao sẽ có tần suất sử dụng Facebook cao hơn. Bên cạnh đó, những người có nhân cách hướng ngoại” cao sẽ tham gia vào nhiều nhóm trên Facebook hơn.
Nhân cách nhiễu tâm! có mối quan hệ thuận chiều với sự ưa thích sử dụng tính năng tường. Trong khi đó, nhân cách này lại có tác động ngược chiều đối với sở thích đăng ảnh. Yếu tố động lực giao. tiếp cho thấy tác động thuận chiều đối với thời gian sử dụng Facebook.
Tài liệu 2: Nghiên cứu của Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) Nghiên cứu này nghiên cứu tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Mẫu nghiên cứu là 237 sinh viên của trường đại học Israel. Cũng như các nghiên cứu đi trước, mô hình 5 nhân tố nhân cách FEM Nhin cách này được giải thích ở trang 26 lon: Nhân cách này được giải thích ở trang 27 + Neuroticism: Nhin cách nay được giả thích ở trang 27 được sử dụng. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng bản câu hỏi 28 item về việc sử dụng Facebook của Ross và cộng sự (2009).
Kết quả Những người có nhân cách hướng ngoại cao sẽ có nhiều bạn bè hơn, ít đăng tải thông tin cá nhân hơn. Những người có nhân cách cởi mở cao sẽ sử dụng nhiễu tính năng của mạng xã hội Facebook hơn. Tuy nhiên, trái với kết quả được Ross và cộng sự (2009) đưa ra, nghiên cứu này cho rằng nhân cách nhiễu tâm có tác động thuận chiều đến sở thích đăng ảnh. Bên cạnh đó, Amichai Amichai Hamburger và Vinitzky cho thấy những người có nhân cách dễ chấp nhận" cao sẽ sử dụng ít tính năng của Facebook hơn.
Trong khi đó, những người có ý chí phấn đấu® cao sẽ có nhiều bạn bè hơn và ít thích đăng anh hơn. Tài liệu 3: Nghiên cứu của Hughes và cộng sự (2012) Mô hình nghiên cứu của Hughes và cộng sự thể hiện tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên các tác giả thêm vào. mô hình nghiên cứu những nhân cách hẹp (Quảng giao”, Nhu cầu hiểu biết) bên cạnh 5 nhân tố nhân cach FFM.
Mau nghiên cứu được tiến hành trên 300 người có độ tuôi từ 1§ đến 63 tuổi. Trong đó, 70% từ Châu Au, 18% từ Bắc Mỹ, 9% từ Châu Á và 3% từ các Châu lục khác. Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu gồm 55% là số người đã đi làm, 41% là sinh viên và 4% là người thất nghiệp. Agreeablenes: Nhân cách được giải thíchở trang 27.
được giải thích ở trang 27. iên sự ưa thích chuyện trỏ với người xung quanh, tương tác xã hội và muốn mình là trung tâm cũa sự chủ ý. | ` * Need for cognition: Nhân cách này liên quan đến sự ưa thích và nỗ lực tìm hiểu về giới xung quanh. Về việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả tiếp cận theo mục đích sử dụng.
Theo đó, việc sử dụng mạng xã hội này sẽ được chia ra thành hai mục đích sử dụng: mục đích cập nhật thông tin” và mục đích giao tiếp xã hội"?. Kết quả 'Nhân cách hướng ngoại, cởi mở, nhiễu tâm, quảng giao tác động thuận chiều đến mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook để cập nhật thông tin. khi đó nhân cách có ý chí phấn đấu tác động ngược chiều. 'Về mục đích sử dụng Facebook cho giao tiếp xã hội, kết quả nghiên cứu.
cho thấy chỉ có nhân cách quảng giao tác động thuận chiều. Tài liệu 4: Nghiên cứu của Moore và cộng sự (2012) Nghiên cứu của Moore và cộng sự nghiên cứu về tác động của nhân cách đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook và sự hồi tiếc'' của người sử dụng mạng xã hội này sau khi đăng tải những nội dung không phù hợp. Mẫu nghiên cứu gồm 219 sinh viên ở trường đại học Midwestern. Cũng phù hợp với các nghiên cứu trước, Moore và cộng sự cũng sử dụng.
mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM đẻ đo lường nhân cách. Đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả sử dụng các item. liên quan đến tần suất sử dụng được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009). Về thời gian sử dụng Facebook, Moore và cộng sự sử dụng thang do | item do chính các tác giả tạo ra với việc hỏi trung bình thời gian sử dụng Facebook trên 1 ngày.
Các câu trả lời sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ ít hơn 1⁄2 giờ tới trên 2h. Khoảng cách giữa các mức độ là 1⁄4 giờ. Ngoài ra, những người tham. gia được yêu cầu để được cho biết số bạn bè và cho phép người nghiên cứu * Facebook info: Nhân tổ này gồm các item liên quan đến việc sử dụng Facebook để tim kiểm và lan truyén thông tin, để theo kịp thời đại, và như là công cụ chính để cập nhật thông tin '9 Facebook social: Nhân tổ này gồm các item liên quan đến sử dụng Facebook để giữ liên lạc với bạn bẻ, sử.
‘dung Facebook vì bạn bè sử dụng và sử dụng mạng xã hội này như là công cụ chính cho các hoạt động mang tính xã hội của bản thân ' Regret: Sự hối tiếc liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Chẳng hạn: hối tiếc vì đã sử dụng nhiều thời gian cho Facebook, hỗi tiếc vi đăng thông tìn lên tường với những nội dung không mong muốn, đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình để kiểm tra các nội dung về bài đăng của họ. Đối với sự hối tiếc các tác giả hỏi người tham gia về tần suất họ cảm thấy. vì đăng những nội dung không phù hợp, chẳng hạn như không muốn sếp của mình tháy, không muốn cha mẹ mình thấy.
Các câu trả lời có 4 mức độ từ không bao giờ đến thường xuyên. Kết quả Nhân cách hướng ngoại tác động thuận chiều đối với số lượng bạn bè và ngược chiều với tần suất sử dụng Facebook và sự hồi tiếc khi đăng những nội dung không phù hợp. Trong khi đó, nhân cách nhiễu tâm tác động thuận chiềuyg với thời gian sử dụng và ngược chiều đối với tần suất sử dụng và sự hối tiếc. Nhân cách đễ chấp nhận các tác động thuận chiều đến sự hối tiếc và ngược chiều đối với số lượng bài đăng trên tường có nội dung về chính họ.
Nhân cách có ý chí phấn đấu tác động thuận chiều đối với sự hói tiếc về những nội dung đã đăng không phù hợp và ngược chiều đối với số lượng bài đăng trên tường có nội dung về chính họ cũng như về những người khác. Tai liệu 5: Nghiên cứu của Jenkins - Guamieri và cộng sự (2013). Nghiên cứu của Jenkins-Guamieri và cộng sự nghiên cứu mối quan hệ giữa sự gắn bó, khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau, nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Mẫu nghiên cứu gồm 617 thanh niên độ tuôi từ 18 đến 22.
Thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) được các tác giả sử dụng để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook gồm các item liên quan đến số lượng bạn bè, thái độ sử dụng. Cũng phù hợp với các nghiên cứu đi trước, nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình 5 nhân tố FEM được sử dụng. để đo lường nhân cách. Thang đo The Experiences in Close Relationships - Revised hay còn gọi là thang đo ECR-R của Eraley, Waller và Brennan (2000) được sử dụng để đo lường sự gắn bó.
Cuối cùng, thang đo The Interpersonal Compentence Seale hay còn gọi là thang đo ICS của Buhrmester, Furrman, Wittenberg va Reis (1988) được sử dụng để đo lường khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau. Kết quả Nhân cách hướng ngoại sẽ tác động thuận chiều trực tiếp tới việc sử dụng. mạng xã hội Facebnok. Hay cụ thể hơn, nhân cách hướng ngoại sẽ tác động.
thuận chiều trực tiếp đến số lượng bàn bè và thái độ sử dụng. Sự gắn bó tác động trực tiếp và thuận chiều tới nhân cách nhiễu tâm, trực tiếp và người chiều tới nhân cách hướng ngoại, trực tiếp và ngược chiều đến khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau Tài liệu 6: Nghiên cứu của Kuo và Tang (2014) Nghiên cứu của Kuo và Tang nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân cách, việc sử dụng mạng xã hội Facebook và các hoạt động giải trí của sinh viên ở trường đại học Đài Loan. Mẫu nghiên cứu gồm 500 sinh viên. Đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook, Kuo và Tang cũng sử dụng thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) gồm các item liên quan đến số lượng bạn bè, thời gian sử dụng, số lượng ảnh đã đăng.
Mô hình 5 nhân tố FFM vẫn là mô hình được các tác giả sử dụng để đo lường nhân cách. Cuối cùng, thang đo cho các hoạt động giải trí các tác giả kết hợp các thang đo Fumham (1981), Hill va Argyle (1998), Jopp va Hertzog (2010), Lu va Hu (2005) va Bureau (2012). Kết quả Nhân cách hướng ngoại, cởi mở tác động thuận chiều đối với số lượng. bạn bè, thời gian sử dụng và số lượng ảnh đăng, đồng thời họ cũng thích tham gia các hoạt động giải trí trong môi trường thực tế (bỏ nhiều thời gian hơn vào.
các đội thể thao và các hoạt động giải trí khác). Tài liệu 7: Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự (2015) Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự xem xét liệu các bức ảnh được đăng lên làm ảnh đại diện có phản ảnh được nhân cách của người sử dụng hay. không? Mẫu nghiên cứu gồm 109 người được chọn từ danh sách gồm 534 bạn bè trên Facebook của các tác giả.