Đặt vấn đề Lam phát là hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia trong các giai đoạn phát triển kinh tế. Vì “lạm phát là một căn bệnh mãn tính, những lúc ngớt cơn chỉ là thời kỳ ủ bệnh và khi phát cơn thì như một ngọn lửa bùng” (Maurice Flamant, 1992) nên việc 6n định và kiểm soát lạm phát luôn là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong việc điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia. Trong những thập kỷ vừa qua, kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm tụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và khiến SVTH: Bui Việt Nhật - Lớp KTH K57 Trang 16 Chuyên Đề T,hực Tập GVHD: PGS.TS Đỉnh Thiện Đức lạm phát tăng cao ở nhiều nước. Trong đó ở VN xuất hiện chu kỳ vòng xoáy “tăng trưởng thấp - lạm phát cao”.
Do chính sách kỳ vọng quá mức về tăng trưởng cao mà lạm dụng yếu tổ tiền tệ đã khiến lạm phát hình thành ở mức cao, gây tác động ngược đối với tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh lạm phát liên tục biến động và ảnh hưởng đáng kế đến định hướng chính sách kinh tế vĩ mô như vậy, từ năm 2011, Chính phủ VN đã quan tâm đến một chính sách tiền tệ mới - chính sách lạm phát mục tiêu mà theo đó duy trì mức lạm phát hợp lí và ôn định trở thành mục tiêu hàng dau của chính sách tiền tệ. Chiến lược thực hiện mục tiêu lạm phát là một quy trình phức tạp. Trước hết, Ngân hàng Trung ương phải xây dựng cho mình một điểm hoặc một khoảng mục tiêu lạm phát.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng minh cho sự tổn tại của ngưỡng lạm phát đối với các mẫu các nước khác nhau như Sarel (1996), Khan và Senhadji (2001), Drukker và cộng sự (2005),. Riêng ở VN chưa có nhiều tác gia thực hiện các nghiên cứu định lượng dé xác định ngưỡng lạm phát, chính vì thế, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm tìm ra ngưỡng hiệu quả cho lạm phát, từ đó đề ra các chính sách kiểm soát lạm phát và phát huy tính tương hỗ trong mối quan hệ này, không đề lạm phát trở thành yêu tố bat lợi cho nền kinh tế. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy với bảng số liệu của 17 nước Albania, Armenia, Brazil, Chile, Colombia, Ghana, Guatemala, Hungary, Indonesia, Israel, Mexico, Peru, Philippines, Romania, Thailand, Turkey va VN tir năm 2000 dén 2012 được thu thập từ nguồn số liệu của World Bank từ năm 2000 đến 2012 nhằm tìm ra môi quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Với kỹ thuật sử dụng biến gia cho mỗi quốc gia, em áp dụng kết quả hồi quy thu được giải thích cho trường hop VN.
Cơ sở lý thuyết về mỗi quan hệ giữa lam phát va tăng trưởng kinh tế - Các tác động tích cực của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, lạm phát có thê tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua kênh tiết kiệm và đầu tư. Sidrauski (1967) nhắn mạnh lạm phát thấp ở mức hợp lí sẽ làm đầu tư trở nên hấp dẫn hơn là nắm giữ tiền mặt vì việc nắm giữ tiền mặt làm giảm giá trị của nó nhanh hơn so với đầu tư. Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát luôn có độ trễ thời gian giữa tăng giá sản phẩm đầu ra và tăng giá chỉ phí đầu vào biểu hiện ở độ trễ về tăng tiền lương. Tobin (1972) nhận định lạm phát vừa phải như là chất bôi trơn của nền kinh tế (grease effect), lam phát giúp các nhà sản xuất có thé giảm chi phí thực sự dé mua đầu vào lao động, từ đó gia tăng tiết kiệm và đầu tư, khuyến khích họ mở rộng quy mô sản xuất.
Thứ hai, lạm phát có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tăng trưởng thông qua tác động kích cầu. Lạm phát tạo ra tâm lý giá tăng nên mọi người có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn hoặc mua hàng hóa tích trữ, do đó làm gia tăng tong cầu. Bên cạnh đó, lạm phát SVTH: Bùi Việt Nhật - Lóp KTH K57 Trang 17 Chuyên Đề T,hực Tập GVHD: PGS.TS Đỉnh Thiện Đức thường kéo theo việc phá giá của đồng nội tệ, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và có xu hướng lam tăng xuất khâu ròng. Cầu xuất khẩu tăng kích thích tăng cầu hàng hóa, dịch vụ trong nước - nguôn cho xuất khẩu.
Trong lý thuyết tổng cầu của Keynes, một nền kinh tế chịu tác động của cả hai nhân tố tong cung và tổng cầu. Song, nhân tố quyết định trực tiếp đến sản lượng và việc làm là tong cầu. Tuy nhiên, tổng cầu thường thấp hơn tổng cung do khuynh hướng tiết kiệm trong sử dụng thu nhập, đó là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế. Để đảm bảo tăng trưởng cần có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các chính sách như mở rộng chính sách tài khóa, tiền tệ nham nâng cao tổng cầu, trong đó việc giảm lãi suất sẽ tạo ra lạm phát, từ đó kích thích mọi người sử dụng tiền mặt dé tiêu dùng, đầu tư kinh doanh.
Thứ ba, nhà nước có thé thông qua việc gia tăng cung tiền dé tăng cường phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng,.Việc đầu tư xây dựng thêm trường học, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tăng lương cho cán bộ nhân viên, xây dựng nhà máy, xí nghiệp,. sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ, đáp ứng các điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho các yêu cau phát triển kinh tế. - Các tác động tiêu cực của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế Thứ nhất, lạm phát làm biến đổi giá tương đối và phân bổ sai các nguồn lực. Fischer (1993) cho rằng lạm phát làm sai lệch trong việc phân phối các nguồn tài nguyên do những thay đổi bat lợi đối với giá cả tương quan.
Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, giá của các hàng hóa thay đồi khác nhau dẫn tới giá tương đối của chúng cũng thay đồi, các quyết định của người tiêu dùng bị biến dang và thị trường mat kha năng phân bổ nguồn lực hiệu quả. Thứ hai, lạm phát làm suy giảm đầu tư - hoạt động nguồn, đầu vào của nền kinh tế. Tính không chắc chắn trong sự biến động của lạm phát chính là nguyên nhân làm suy giảm đầu tư trong dai hạn. Vì các nhà đầu tư không thé tính toán chính xác lãi suất thực thu được từ hoạt động đầu tư nên họ không dám liều lĩnh đầu tư nhiều, đặc biệt vào các dự án dài hạn.
Fischer (1993) xây dựng lược đồ nhằm xác định “kênh truyền tải” từ thực thi chính sách kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng như sau: lạm phát tăng — đầu tư suy giảm — tỷ lệ tăng năng suất suy giảm —> tăng trưởng kinh tế suy giảm. Theo Choi và đồng sự (1996), Azariadas và Smith (1996), nếu lạm phát tăng cao sẽ làm giảm mức lãi suất thực tế mà người đi vay phải trả cho người cho vay, thậm chí âm. Tình huống đó dẫn tới có nhiều người muốn trở thành người di vay hơn là người tiết kiệm, do đó tạo ra sự mat cân bằng trong thị trường vốn và tín dụng. Bên cạnh đó, lạm phát cao còn làm biến dạng thuế (Romer, 2001) làm suy giảm động cơ tiết kiệm của các chủ thể gửi tiền mà tiết kiệm lại là nguồn của dau tư.
Lam phát cao còn gây ra “chi phí mòn giày”, “chi phí thực SVTH: Bùi Việt Nhật - Lóp KTH K57 Trang 18 Chuyên Đề T,hực Tập GVHD: PGS.TS Đỉnh Thiện Đức đơn”, “nhằm lẫn va bat tiện”. Thứ ba, lạm phát có thé tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua những thay đổi trong chính sách tỷ giá. Bởi lạm phát thường kéo theo việc nâng tỷ giá làm tăng chi phí nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp và Chính phủ có nợ vay nước ngoài, từ đó gia tăng nguy cơ vỡ nợ của các doanh nghiệp và Chính phủ. Đối với một số nền kinh tế mở nhưng tỷ giá hối đoái không hoàn toàn linh hoạt, lạm phát có thé làm thâm hut cán cân thương mai.
Khả năng cạnh tranh của một quốc gia có lạm phát cao sẽ bị xóa mòn bởi sự tuân thủ tỷ giá danh nghĩa cố định (Hossain và Chowhury, 1996). - Nghiên cứu của Sarel năm 1996 về “Tác động phi tuyến tính của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế” Thu tục ước tính ngưỡng lạm phát của Sarel, về cơ bản là chạy một loạt các hồi quy OLS với các giá trị ngưỡng * khác nhau và tìm kiếm giá trị ngưỡng của lạm phát tại lần hồi quy tối đa hóa hệ số xác định R2 (R-squared) hoặc tối thiểu chỉ số sai số bình phương trung bình (Root Mean Square Error - RMSE). Phương trình Sarel được xác định như sau: Ay=ơ+BI1. Hệ số j2 chỉ ra sự khác biệt trong các tác động của lạm phát đối với tăng trưởng giữa hai phía ngưỡng.
Sarel sử dụng kiểm định t kiếm định j2 dé kiểm tra xem ngưỡng tìm được có ý nghĩa thống kê hay không. Khi lạm phát nhỏ hơn hoặc bằng với ngưỡng thì tác động của lạm phát đến tăng trưởng được thể hiện qua hệ số B1. Khi lam phát cao hơn ngưỡng thì tổng B1+⁄2 sẽ đại diện cho các tác động của lạm phát lên tăng trưởng. Sử dụng dữ liệu của 87 quốc gia, Sarel thấy rằng 8% là ngưỡng thích hợp của lạm phát.
Dưới ngưỡng này lạm phát ảnh hưởng không đáng ké, thậm chí là tích cực, trong khi đó, nếu lạm phát trên ngưỡng này, nó có ảnh hưởng tiêu cực đáng kê đến tăng trưởng kinh tế. - Nghiên cứu của Khan và Senhadji năm 2001 “Tác động của ngưỡng lạm phát trong mối quan hệ giữa lạm phát va tăng trưởng kinh tế” Đề kiểm định sự tồn tại của tác động ngưỡng lạm phát đến tăng trưởng, Khan và Senhadji (2001) sử dụng phương pháp kinh tế lượng để ước tính ngưỡng mà trước đó đã được phát triển bởi Chan và Tsay (1998) và E. Mô hình cụ thé nhu sau: dlog(yit) = y0 + wi + pt + y1. {log(ait) — SVTH: Bùi Việt Nhật — Lép KTH K57 Trang 19 Chuyên Đề T,hực Tập GVHD: PGS.TS Đỉnh Thiện Đức log(x*)} + B.