Chương 1 là chương tiền đề để tác giả có cơ sở hoạch định các bước thực hiện để hoàn thiện luận văn. Tiếp theo, chương 2 sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết của đề tài, cùng với đó là trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước đây về nghiên cứu tác động của tỷ giá và lãi suất tới tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ ĐẾN TSSL CỦA CỔ PHIẾU NHTMCP 2. Lý luận cơ bản về lãi suất và tỷ giá 2.
Khái niệm lãi suất Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2011), lãi suất là tỷ lệ phần trăm (%) phản ánh tiền lãi phải trả (hay chi phí) tính trên tổng số vốn vay trong một thời gian nhất định. Trong đó, mỗi đơn vị của lãi suất được gọi là một điểm lãi. Xét về bản chất, lãi suất là công cụ phản ánh giá cả của vốn tín dụng. Với bản chất đó, lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định tiêu dùng hay tiết kiệm của các cá nhân, nhà đầu tư, hộ gia đình, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp.
Tùy theo từng tiêu chí mà lãi suất cũng được phân loại khác nhau như: Lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn; Lãi suất cố định và lãi suất biến đổi; Lãi suất chiết khấu, lãi suất coupon và lãi suất cuối kỳ; Lãi suất thương mại, lãi suất tín dụng Nhà nước và lãi suất ngân hàng. Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về tác động của lãi suất ngân hàng. Theo Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Thị Nhung (2011), lãi suất ngân hàng là lãi suất áp dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm cả quan hệ giữa ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế như doanh nghiệp, công chúng. cả quan hệ tín dụng trên thị trường liên ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau, giữa ngân hàng trung ương với các ngân hàng trung gian.
Tùy theo từng tiêu chí phân loại mà lãi suất ngân hàng có các cách phân loại sau: Lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất cơ bản. Trong các loại lãi suất ngân hàng, tác giả sử dụng lãi suất liên ngân hàng để nghiên cứu trong mô hình. Lãi suất liên ngân hàng 8 có thể hiểu là lãi suất vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng, thông qua thị trường liên ngân hàng. Vai trò của lãi suất Trong nền kinh tế, lãi suất là một công cụ hết sức quan trọng để thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi từ nơi dư thừa đến nơi cần vốn.
Cụ thể, theo Lê Thị Tuyết Hoa (2011), lãi suất có các vai trò sau đây: Lãi suất là phương tiện kích thích lợi ích vật chất để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Thực tế, lãi suất là một loại giá cả đặc biệt của mua bán vốn tiền tệ, do đó lãi suất cũng phải tuân thủ theo quy luật của cung cầu thị trường. Đối với ngân hàng, muốn huy động nhiều vốn từ bên ngoài thì tăng lãi suất tiền gửi, khi đó sẽ kích thích lòng ham muốn lợi nhuận của khách hàng đối với ngân hàng. Do đó, lãi suất là công cụ điều tiết nguồn tiền của ngân hàng.
Lãi suất là công cụ kích thích đầu tư phát triển kinh tế: Với mức lãi suất hợp lý sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, hạn chế thất nghiệp, tăng thu nhập quốc dân và cải thiện đời sống người dân, qua đó tạo điều kiện cho xã hội ngày càng phát triển. Lãi suất là đòn bẩy kích thích ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Đối với các ngân hàng: Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng là huy động vốn để cho vay, ngân hàng dùng mọi biện pháp và cách thức để thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. Đồng thời, ngân hàng thực hiện các hình thức sử dụng vốn cho vay có hiệu quả sao cho thu được lợi ích kinh tế cao nhất. Đối với doanh nghiệp: Khi vay vốn doanh nghiệp cần phải có kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả và tiết kiệm nhất để đảm bảo doanh nghiệp có thể hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
9 Lãi suất là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế: Căn cứ vào tình hình và sự biến động của lãi suất trong một thời kỳ có thể dự báo được tình hình của nền kinh tế thông qua một số yếu tố như: tình hình tiền tệ, tính sinh lời của các dự án đầu tư, mục tiêu của các chính sách của Nhà nước, tình hình kinh tế trong tương lai. Từ đó, ngân hàng và các doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án kinh doanh cho phù hợp. Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Lãi suất là công cụ thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ của quốc gia. Thông qua công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể thắt chặt hoặc mở rộng tiền tệ để kìm hãm và kiểm soát lạm phát hoặc kích cầu để hạn chế giảm phát, từ đó ổn định thị trường và kích thích phát triển kinh tế.
Ngoài ra, sự thay đổi của lãi suất ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư, xuất nhập khẩu., qua đó sẽ ảnh hưởng đến tổng sản phẩm quốc dân. Đồng thời sự thay đổi của lãi suất cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng, do đó lãi suất đã góp phần điều tiết sản xuất và tiêu dùng, điều tiết cung và cầu hàng hóa. Tỷ giá hối đoái 2. Khái niệm tỷ giá hối đoái Theo Lê Thị Diệu Thảo - Nguyễn Trần Phúc (2015) tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ này được biểu thị thông qua một số lượng đơn vị tiền tệ khác.
Theo luật ngân hàng nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”. Do đó, có thể hiểu rằng: Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này so với đơn vị tiền tệ khác. Vai trò của tỷ giá hối đoái Theo Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự (2011), tỷ giá hối đoái có ba vai trò chính là: 1 Tỷ giá hối đoái là công cụ so sánh sức mua của các đồng tiền: Thông qua tỷ giá ta có thể so sánh giá cả, năng suất lao động, giá thành sản phẩm ở thị trường trong nước với thị trường các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, muốn lựa chọn phương án đầu tư, liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài và tính toán hiệu quả của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu một cách đúng đắn, chính xác, ta phải dựa vào công cụ tỷ giá hối đoái.
Do đó, tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụ hữu hiệu để đề ra các chính sách kinh tế đối ngoại, hoạt động ngoại thương, lập kế hoạch phát triển kinh tế trong và ngoài nước. Tỷ giá hối đoái là công cụ kích thích và điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu: Thông qua cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, nhà nước có thể tác động điều chỉnh cơ cấu xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ cho từng loại sản phẩm nhằm khuyến khích hoặc hạn chế xuất nhập khẩu các mặt hàng đó, đáp ứng việc thực hiện định hướng phát triển của nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái là công cụ điều tiết thu nhập trong hoạt động kinh tế đối ngoại: Khi nâng giá đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài đồng nghĩa với việc nhà nước đã giảm thu nhập của các nhà xuất khẩu, đồng thời lại tăng thêm thu nhập cho các nhà nhập khẩu. Ngược lại, khi nhà nước thực hiện phá giá đồng tiền nghĩa là nhà nước đang hỗ trợ cho nhà xuất khẩu tăng thu nhập và có thêm lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, kích thích hoạt động xuất khẩu.
TSSL của cổ phiếu NHTMCP 2. Khái niệm Theo Don M. Chance và Robert Brooks (2012), TSSL là một tiêu thức được đo lường sự tăng lên hoặc giảm xuống của tài sản từ việc đầu tư, có hai cách đo lường chính của TSSL là: lợi nhuận bằng tiền và tỷ lệ lợi nhuận. Lợi nhuận bằng tiền đo lường thành quả đầu tư bằng tổng số tiền lời hoặc lỗ.
Nó đại diện cho thành quả tuyệt đối. Tỷ lệ lợi nhuận đo lường thành quả đạt được trên mỗi đồng vốn đầu tư. Nó đại diện cho tỷ lệ phần trăm gia tăng trong tài sản của nhà đầu tư. 1 Từ định nghĩa TSSL trên có thể rút ra rằng TSSL của cổ phiếu là thành quả mang lại của việc đầu tư cổ phiếu và tỷ suất này cũng được đo lường theo hai cách chính trên.
Lợi nhuận bằng tiền đối với cổ phiếu là số tiền có được từ sự thay đổi giá cổ phiếu. Đối với thước đo tỷ lệ lợi nhuận thì TSSL của cổ phiếu là tỷ lệ phần trăm thay đổi trong giá cả của cổ phiếu. Trong luận văn này, tác giả sử dụng cách đo lường thứ hai để đo lường TSSL của cổ phiếu NHTMCP, nghĩa là TSSL của cổ phiếu được tính bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá cổ phiếu NHTMCP. Các mô hình đo lường TSSL cổ phiếu Nghiên cứu về TSSL của cổ phiếu ngân hàng là chủ đề của sự quan tâm đáng kể từ các nhà quản lý, trung gian tài chính và các học giả trong một thời gian dài.
Có nhiều nghiên cứu trước đây đó là mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model - CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory) – mô hình APT. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) là một mô hình phổ biến để đo lường TSSL của cổ phiếu ngân hàng. Ngoài CAPM, là mô hình một yếu tố, mô hình lý thuyết giá chênh lệch giá (APT) bao gồm các yếu tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận chứng khoán nơi độ nhạy cảm với thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bởi một hệ số beta đặc trưng cho yếu tố. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) Mô hình định giá tài sản vốn (Capital asset pricing model – CAPM) là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng.
Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó.