chương 1, nêu lên bối cảnh, vấn đề nghiên cứu của đề tài. Ở chương 2, đưa ra căn cứ là cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở VN. Tiếp theo trong chương 3, xây dựng mô hình nghiên cứu của đề tài, dẫn giải về tính đại diện của các biến trong mô hình nghiên cứu và ảnh hưởng của các biến đến NSVC. Qua chương 4, trình bày kết quả thông qua thống kê mô tả, phân tích số liệu khảo sát và phân tích kết quả mô hình nghiên cứu.
Cuối cùng ở chương 5, đưa ra các kết luận và từ kết quả nghiên cứu xây dựng các đề xuất chính sách KN cho phát triển ngành cao su. 123doc 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA KIẾN THỨC NÔNG NGHIỆP ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 2. Mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào SX là quá trình chuyển hóa những yếu tố đầu vào thành những yếu tố đầu ra hay còn được gọi là sản lượng đầu ra hoặc sản phẩm, và kết quả của SX do lượng và chất của các yếu tố đầu vào và công nghệ sử dụng quyết định, mối tương quan phụ thuộc đó được diễn tả qua hàm SX: Y= f (X1, X2, X3, X4., Xn) Với: Y là sản lượng đầu ra; Xi là số lượng yếu tố đầu vào thứ i, các yếu tố đầu vào có thể gồm các thành phần cơ bản như: vốn (K), lao động (L) và yếu tố tăng năng suất (TFP). K: nhà xưởng, đất đai, máy móc, và nguyên nhiên vật liệu.
Trong nông nghiệp vốn gồm có: đất, hệ thống tưới nước, máy móc nông nghiệp, sân phơi, gia súc làm việc, giống cây trồng, phân bón, thuốc hoá học, nguyên vật liệu. L: được đề cập cả về số lượng và chất lượng lao động, chất lượng lao động bao hàm cả những yếu tố phi vật chất như kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm. TFP: điển hình như công nghệ, vận dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ mới…trong SX. Hàm SX một mặt cho biết sản lượng đầu ra từ việc kết hợp các yếu tố đầu vào, mặt khác cũng cho biết lượng yếu tố đầu vào cần sử dụng ứng với mỗi kỹ thuật để SX ra mức sản lượng đầu ra theo ý muốn.
Khái niệm năng suất lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lao động Năng suất lao động nông nghiệp (NSLĐNN) đo lường giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp trên một lao động khu vực nông nghiệp. Theo Barker (2002) phân tích phương trình NSLĐNN: Y Y A y * (2.1) L A L 123doc 5 y: NSLĐNN; Y: Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp; A: diện tích đất nông nghiệp; L: lao động nông nghiệp. Y : Năng suất đất nông nghiệp, đo lường giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp trên 1 ha đất A nông nghiệp; A : Quy mô đất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp trên 1 lao động nông nghiệp. L NSLĐNN phụ thuộc vào 2 nhóm yếu tố: quy mô đất và năng suất đất.
Ứng dụng vào VN, theo Đinh Phi Hổ (2009) nhận định năng suất đất phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư, mô hình đa dạng hoá nông nghiệp, trình độ KTNN và giới tính của chủ hộ. Quy mô đất phụ thuộc vào trình độ cơ giới hoá trong SX, quy mô đất nông nghiệp của hộ nông dân. Lý thuyết ứng dụng công nghệ và năng suất lao động trong nông nghiệp Lý thuyết của Kaldor (1968): với luận điểm cơ bản tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào phát triển tiến bộ kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ.1 Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ kỹ thuật công nghệ Y/L Ft+1 Ft K/L Không chỉ gia tăng vốn SX là có thể tăng trưởng mà còn tùy thuộc vào trình độ phát triển công nghệ, yếu tố quyết định đến tăng trưởng chính là công nghệ. Lý thuyết Hayami và Ruttan (1971): lao động và đất nông nghiệp là hai nguồn lực chủ yếu thường được xem là khan hiếm trong quá trình phát triển nông nghiệp: 123doc 6 Đất dồi dào, khan hiếm về lao động (Bắc Mỹ và Úc), hoặc trong quá trình phát triển kinh tế lao động lại trở nên khan hiếm (Nhật Bản).
Con người phát triển kỹ thuật nông nghiệp là tìm kiếm các công nghệ mới nhằm gia tăng năng suất nhưng tiết kiệm lao động. Lao động dồi dào, khan hiếm về đất NN, con đường phát triển kỹ thuật là tìm kiếm các công nghệ mới nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích. Theo Feder và Slade (1993) về chuyển giao công nghệ trong SXNN: tạo ra các công nghệ SXNN mới chưa phải là điều kiện đủ trong việc nâng cao năng suất nếu có khoảng cách giữa công nghệ mới và việc áp dụng nó bởi nông dân. Dịch vụ thông tin kỹ thuật nông nghiệp cần được hình thành nhằm tạo kết nối giữa nơi cung công nghệ mới và người ứng dụng.
Thông tin về kỹ thuật nông nghiệp là hàng hóa công vì người cung cấp thông tin đến một người sử dụng nó không thể loại trừ người khác có thể sử dụng thông tin này. Do đó dịch vụ thông tin kỹ thuật nông nghiệp cần được hình thành trên nền tảng đầu tư của nhà nước. Hệ thống làm cầu nối giữa các tiến bộ kỹ thuật từ các tổ chức nghiên cứu và người ứng dụng nó chính là hệ thống KN. Hệ thống KN ra đời trong những năm đầu của thập niên 60.
Ngày nay, hệ thống KN trở nên phổ biến đối với hầu hết các nước đang phát triển và trở thành công cụ hiệu quả đối với chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân. Phương pháp KN: có hai cách tiếp cận KN nông thôn. Cách tiếp cận đa chức năng: ngoài chức năng phổ biến kiến thức kỹ thuật nông nghiệp, hệ thống KN còn có trách nhiệm trực tiếp quản lý cung các đầu vào cho SXNN, tín dụng và các hoạt động khác như tham gia các chương trình cải thiện trình độ văn hóa, dinh dưỡng và sức khỏe cho nông dân. Cách tiếp cận Viếng thăm – Huấn luyện: tổ chức KN chỉ làm chức năng duy nhất về truyền bá kỹ thuật đến nông dân, cho họ áp dụng vào SX là chủ yếu.
Truyền bá kỹ thuật có hai phương pháp: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua cán bộ KN ở cơ sở. Thông qua cán bộ KN ở cơ sở sẽ tạo tác động lan truyền từ những hộ nông dân là cộng tác viên KN đến những hộ nông dân láng giềng. Lý thuyết về rủi ro áp dụng công nghệ mới: Wharton (1959) đưa ra mô hình về bản chất của rủi ro và sự bất hợp tác của nông dân với việc áp dụng công nghệ mới: nông dân không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới do không biết hoặc không hiểu về công nghệ mới; không có đủ năng lực để thực hiện; không được chấp 123doc 7 nhận về mặt tâm lý, văn hóa và xã hội; không được thích nghi; không khả thi về kinh tế; không sẵn có điều kiện để áp dụng. Jedlicka (1997) mô tả các giai đọan ứng dụng kỹ thuật mới và cách cư xử chấp nhận rủi ro của nông dân: Biết đến kỹ thuật mới quan tâm đánh giá về lợi ích, chi phí của việc áp dụng kỹ thuật mới làm thử nghiệm áp dụng chính thức.
Trong bước đánh giá về lợi ích, chi phí về việc áp dụng kỹ thuật mới, việc phổ biến kỹ thuật mới và được ứng dụng bởi nông dân là làm cách nào giúp nông dân, tự chính bản thân họ thấy được rủi ro và lợi ích khi áp dụng kỹ thuật mới. Hệ thống KN làm thay đổi sự ngần ngại và khuyến khích, trợ giúp nông dân đương đầu với những rủi ro trong việc áp dụng công nghệ mới. Ảnh hưởng kiến thức nông nghiệp đến năng suất lao động Chất lượng của yếu tố đầu vào đóng vai trò quan trọng đối với sản lượng đầu ra. Trong quá trình SX, vai trò chất lượng của yếu tố lao động có ý nghĩa đặc biệt bởi lao động là yếu tố đầu vào không thể thay thế được của bất kỳ quá trình SX nào và chính lao động có chất lượng sẽ cải tiến và phát minh kỹ thuật mới để tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào khác.
Một trong những nhân tố cấu thành chất lượng của lao động đó là kiến thức của người lao động - nhân tố phi vật chất tạo nên giá trị của lao động, bao gồm những hiểu biết về mặt kinh tế, xã hội và chuyên môn. Các nhà kinh tế học có những ý kiến khác nhau về ảnh hưởng của KTNN lên hiệu quả SX của nông dân. Tuy nhiên, họ đều thừa nhận vai trò của kiến thức lên hiệu quả SX. Các nhà kinh tế đã tranh luận về vai trò của KTNN đối với SXNN và đưa ra những nhận định sau: Theo Alfred Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của SX.
Hsieh (1963), KTNN của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở nông thôn. Khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng sẽ nâng dần kiến thức kinh tế xã hội, kỹ thuật sản xuất cho các hộ nông dân. Wharton (1963) cho rằng, với các nguồn lực đầu vào giống nhau thì hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả SX khác nhau. Bhati (1973) nhận định, KTNN cũng là một yếu tố đầu vào của SX và coi đây là yếu tố có thể kết hợp các nguồn lực đầu vào chính như giống, phân bón, thuốc 123doc 8 BVTV, nước tưới và lao động.
Người nông dân phải có đủ kiến thức mới có thể phối hợp các yếu tố đạt hiệu quả. Đinh Phi Hổ (2003), kiến thức của người SXNN được gọi là KTNN và có thể được xem như là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và ứng dụng vào hoạt động SX của mình. Đinh Phi Hổ (2008), trình độ KTNN của nông dân có tác động cùng chiều đến thu nhập của nông dân VN. KTNN bao gồm kiến thức chung về nông nghiệp và kiến thức kỹ thuật nông nghiệp.
Kiến thức chung về nông nghiệp có thể xem xét bởi mức độ tham gia của nông dân vào các hoạt động cộng đồng. Nông dân tham gia vào các hoạt động KN và xã hội ở nông thôn sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với các kiến thức hiện đại vận dụng vào trong SX, ảnh hưởng đến quyết định SX. KN giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao KTNN cho nông dân và KTNN ảnh hưởng đến NSLĐ và thu nhập của nông dân.