MỞ ĐẦU Ngành công nghiệp ô tô luôn là ngành mũi nhọn đóng góp lớn vào GDP của các nước lớn trên thế giới với 3.25% GDP của Mỹ, 5% GDP của Trung Quốc, 4% GDP của Đức và 12% GDP của Thái Lan. Tại Việt Nam, ngành công nghiệp ô tô đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, chiếm tới 3% GDP cả nước. Chính vì lý do này mà ngành luôn giành được những sự quan tâm và đối xử đặc biệt từ phía chính phủ với tầm nhìn 2030, phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành công nghiệp quan trọng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước. Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một làn sóng đầu tư ồ ạt chảy vào Việt Nam, các hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới cũng bắt đầu có mặt tại Việt Nam liên doanh với các đối tác trong nước để hình thành nên các liên doanh sản xuất và lắp ráp ô tô.
Các nhãn hiệu ô tô trên thị trường Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, đến từ nhiều hãng lớn trên thế giới đã góp mặt tại thị trường Việt Nam như: Toyota, Hyundai, Kia, Mazda, Honda, GM, Ford, Nissan… Cùng với đó, thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam cũng đang phải chịu sự cạnh tranh gay gắt đặc biệt từ các đối thủ cạnh tranh như: Trung Quốc, Ấn Độ… và các nước ASEAN. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đời vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước, đi sau các nước khác trên thế giới cả thế kỉ. Do đó, là một ngành quan trọng còn non trẻ, ngành công nghiệp ô tô được Nhà nước hết sức ưu ái tạo điều kiện phát triển sau hàng rào bảo hộ rất cao. Tuy vậy, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện có rất nhiều vấn đề bất cập như tỷ lệ nội địa hoá thấp, trình độ công nghệ thấp dẫn đến không đáp ứng được các tiêu chuẩn so với ngành công nghiệp ô tô trên thế giới.
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Và Việt Nam đang trên con đường đổi mới, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cùng với ngành công nghiệp ô tô không nằm ngoài xu thế đó. Vấn đề đặt ra là hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động như thế nào đến ngành công nghiệp ô tô Việt Nam? Làm thế nào để ô tô Việt Nam có thể cạnh tranh được với ô tô của các nước trên thế giới? Đây là những điều mà Chính Phủ cũng như các doanh nghiệp ô tô 2 Việt Nam rất quan tâm. Nhận thức được sự quan trọng của vấn đề này, nhóm 3 chúng em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Tác động động của hội nhập kinh tế quốc tế đến ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam” 3 I.
TCNG QUAN HÔ$I NHÂ$P KINH T QUC T CDA VIÊ$T NAM 1. Hô i$nhâ p$ kinh t4 qu6c t4: 1.1 Kh+i niê m $ Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình ở đó có sự liên kết, hợp tác giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau nhằm xây dựng và thực hiện một cơ chế chung, thống nhất điều chỉnh dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố liên quan quá trình sản xuất theo hướng ngày càng tự do, thông thoáng, thuận lợi, góp phần hình thành thể chế kinh tế khu vực hoặc thế giới.2 V) bn chất ⬥ Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình liên kết, hợp tác giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề chủ yếu: - Cắt giảm và đi đến xóa bỏ thuế quan cũng như những hàng rào phi thuế đối với thương mại quốc tế. - Giảm bớt các hạn chế đối với đầu tư quốc tế. - Điều chỉnh các chính sách thương mại, tài chính và triển khai các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế,.
có tính chất toàn cầu.3 Mục tiêu c0a hội nhập kinh t4 qu6c t4 Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0 đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối với hoạt động thương mại. Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, tức là tự do hoá TMDV. Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để thúc đẩy hơn nữa tự do hoá thương mại. Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý thương mại, đầu tư ở các quốc gia dựa trên những quy tắc và luật pháp quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại như thủ tục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh, thương mại điện tử,.
4 Điều chỉnh và hài hoà các thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch thương mại, thực hiện tạo thuận lợi thương mại. Tăng cường hợp tác trên các phương diện: ngoại giao, kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm nâng cao năng lực của các nước trong quá trình hội nhập.4 C+c hình thức hội nhập kinh t4 qu6c t4 Thỏa thuận thương mại ưu đãi Khu vực mậu dịch tự do (FTA-Free Trade Area) Liên minh thuế quan Thị trường chung Liên minh kinh tế/tiền tệ Liên minh chính trị 1.5 T+c động c0a c+c kh6i kinh t4 khu v;c trong n)n kinh t4 th4 gi=i Thứ nhất, thúc đẩy tự do hoá thương mại, đầu tư và dịch vụ trong phạm vi khu vực cũng như là giữa các khu vực với nhau. Thứ hai, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường các quốc gia, tạo lập những thị trường khu vực rộng lớn. Thứ ba, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới.
Thứ tư, sự hình thành và phát triển của các khối kinh tế khu vực cũng gây ra một số vấn đề. Qu+ trình hô $i nhâ $p kinh t4 qu6c t4 c0a Viê $t Nam 2.1 C+c hiêp$ đSnh v) ngnh công nghiê p$ ô tô 2.1 Quy đSnh chung c0a WTO Mức cam kết thuế nhập khẩu đối với ô tô nguyên chiếc không giống nhau giữa các nhóm cam kết. Cụ thể xem bảng dưới đây: 5 Bng 1: C+c cam k4t v) cắt gim thu4 trong WTO đ6i v=i mặt hng ô tô nguyên chi4c v phụ tùng ô tô nhập khẩu Bng 2: Biểu thu4 nhập khẩu ô tô v phụ tùng ô tô c0a Việt Nam 6 Theo cam kết WTO, thuế suất nhập khẩu ô tô trên thế giới sẽ giảm còn 70% vào năm 2014 và 47% năm 2017. Tuy nhiên, với những loại xe hạn chế tiêu dùng, chủ yếu là xe dưới 9 chỗ ngồi, quan điểm của Bộ là duy trì mức thuế suất cao bằng mức cam kết WTO, năm 2013 thuế nhập khẩu là 74% và giảm dần xuống 47% và 52% vào năm 2019.2 Cam k4t trong Hiệp đSnh thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) -2001 Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 10/12/2001.
Tại phụ lục B1 của Hiệp định này, lịch trình loại bỏ hạn chế số lượng nhập khẩu ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe là 5 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Như vậy, vào ngày 10/12/2006 Việt Nam sẽ không được hạn chế số lượng nhập khẩu loại xe này từ Hoa kỳ. Tại Phụ lục D về lịch trình bãi bỏ hạn chế về quyền kinh doanh nhập khẩu và quyền phân phối sản phẩm công nghiệp quy định đối với ô tô chở 10 người trở lên kể cả lái xe, xe vận tải hàng hoá, xe chuyên dụng; khung gầm đã gắn động cơ, thân xe (kể cả cabin), xe tải tự hành trong nhà máy, kho tàng tương ứng là 6 và 7 năm. Như vậy, thời gian bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước theo BTA chỉ được đến năm 2006 (đối với việc nhập khẩu), 2007 (đối với việc kinh doanh nhập khẩu), và năm 2008 (đối với hoạt động phân phối).3 ASEAN - Trung Qu6c (ACFTA): Khu v;c mậu dSch t; do Asean - Trung Qu6c - 2006 Vào ngày 12/6/2006, Bộ tài chính đã ban hành quyết định 35/2006/QD-BTC về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Trung Quốc.
Theo báo cáo của Bộ tài chính về sự tác động của ACFTA đối với ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, lộ trình cắt giảm thuế như sau: Xe ô tô (mã 8702, 8703), ngoại trừ các loại xe bus được sử dụng trong ngành hàng không, và những loại xe chuyên dùng trong HSL, vẫn duy trì ở mức thuế 100% (MFN) cho đến năm 2017 và giảm xuống 50% vào năm 2018. Các loại xe tải (mã số 8704): + Dưới 5 tấn: giảm dần từ 100% và xuống 45% vào năm 2014. 7 + Từ 5 đến 10 tấn: giảm dần từ 60%, xuống 30% vào năm 2012. + Từ 10 đến 20 tấn: giảm dần từ 30% xuống còn 5% vào năm 2013 và 0% và năm 2018.4 ASEAN - Hn Qu6c (AKFTA) : Khu v;c Mậu dSch t; do ASEAN-Hn Qu6c - 2007 Theo Bộ Tài chính, thuế suất ưu đãi đặc biệt của các dòng hàng động cơ và hộp số ô tô tại ATIGA là 0%, trong hiệp định ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt.
Việt Nam tham gia AKFTA từ năm 2005 và bắt đầu thực hiện các cam kết về thuế nhập khẩu từ năm 2007. Về phía Việt Nam, năm 2018, dự kiến khoảng 620 dòng thuế sẽ được giảm thuế về 5% (tập trung vào một số nhóm như điện tử, cơ khí, sắt thép và kim loại cơ bản, sản phẩm hóa dầu, phụ tùng máy móc, một số mặt hàng ô tô đặc chủng và chuyên dụng,…). Về phía Hàn Quốc, đã hoàn tất việc xóa bỏ thuế nhập khẩu theo cam kết trong AKFTA từ năm 2010. Tính đến năm 2015, 90,9% hàng hóa của Việt Nam khi xuất khẩu sang Hàn Quốc sẽ được hưởng thuế suất 0% nếu có chứng nhận xuất xứ hàng hóa.5 Hiệp đSnh Đ6i t+c kinh t4 Viê $t Nam - Nhâ $t Bn (VJEPA) - 2009 Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) được ký kết vào ngày 25/12/2008 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2009.
Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ Nhật Bản: Dòng thuế CKD ô tô không cam kết cắt giảm. Nhập khẩu linh kiện từ Nhật Bản: Dòng thuế CKD ô tô không cam kết cắt giảm.