Tổng quan luận án

Công trình "Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2001 đến nay và tác động đến an ninh quốc gia" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (Mã số: 62 31 02 01), được nghiên cứu sinh Hoàng Quốc Ca thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Quang Minh và TS. Phạm Ngọc Anh.

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là xu thế khách quan của thời đại. Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế, xác định mục tiêu chủ động hội nhập để mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ và tri thức quản lý phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hai thập niên, Việt Nam đạt được nhiều kết quả quan trọng về kinh tế và đối ngoại. Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ những hạn chế như: quan hệ hợp tác ở một số nơi còn mang tính hình thức, sự gắn kết giữa hội nhập với bảo đảm quốc phòng - an ninh, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, môi trường và bản sắc văn hóa chưa thực sự chặt chẽ. Đặc biệt, Việt Nam tiến hành HNKTQT trên nền tảng Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội thế giới thoái trào, các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng hội nhập để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" và chuyển hóa chính trị. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về kinh tế quốc tế hoặc từng mặt riêng lẻ của an ninh, song chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện toàn bộ tiến trình từ năm 2001 đến nay dưới góc độ chuyên ngành Chính trị học để làm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa HNKTQT và an ninh quốc gia (ANQG).

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về HNKTQT và tác động đến ANQG, luận án làm rõ thực trạng quá trình HNKTQT của Việt Nam và tác động của quá trình này đến ANQG từ năm 2001 đến nay. Từ đó, xác định những vấn đề đặt ra, các quan điểm cần quán triệt và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả HNKTQT và bảo đảm ANQG trong thời gian tới.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
      1. Hệ thống hóa, phân tích làm rõ hơn những vấn đề lý luận về HNKTQT và tác động đến ANQG;
      2. Phân tích làm rõ những kết quả đạt được, thành tựu và hạn chế trong quá trình HNKTQT của Việt Nam từ năm 2001 đến nay;
      3. Phân tích, làm rõ những tác động của HNKTQT đến ANQG Việt Nam từ năm 2001 đến nay, trên cơ sở đó xác định những vấn đề đặt ra, các quan điểm cần quán triệt và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả HNKTQT và bảo đảm ANQG trong thời gian tới.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình HNKTQT của Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 đến nay và tác động của quá trình này đến ANQG Việt Nam.
    • Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động HNKTQT của Việt Nam được triển khai trong nước và trên phạm vi quốc tế.
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát dữ liệu thực tiễn từ năm 2001 đến hết năm 2021.
    • Phạm vi nội dung: Tiếp cận HNKTQT theo nghĩa quá trình ký kết, tham gia các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế, đàm phán luật chơi chung và thực thi các cam kết, tập trung vào hai nội dung: hội nhập song phương (với các nước lớn có ảnh hưởng) và hội nhập đa phương (với các tổ chức kinh tế quan trọng). Về ANQG, luận án căn cứ theo Luật An ninh quốc gia (2004), tập trung khảo sát ở hai chiều kích cơ bản là an ninh chính trị và an ninh kinh tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thông qua ba nhóm công trình chính:

Các nghiên cứu ở nước ngoài về hội nhập kinh tế của Việt Nam

  • Dara O'Rourke (1995): Phân tích xung đột giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội, đề xuất khung tích hợp chính sách hướng tới phát triển bền vững tại Việt Nam.
  • K. Griffin (1998): Đánh giá quá trình hội nhập từ giữa thập niên 1980 qua hai chỉ số là khối lượng giao dịch bên ngoài và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phân tích tác động tới tăng trưởng và phân phối thu nhập.
  • Rhys Jenkins (2004): Khảo sát tác động của dòng chảy thương mại quốc tế đến việc làm và giảm nghèo tại Việt Nam từ đầu thập niên 1990, chỉ ra tăng trưởng xuất khẩu tạo thêm việc làm trong khi áp lực cạnh tranh nhập khẩu tác động tiêu cực đến một bộ phận sản xuất trong nước.
  • Nguyen Manh Hung (2004): Nhận diện các thách thức thể chế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập, trong đó nạn tham nhũng là rào cản đối với thu hút đầu tư và lòng tin của người dân.
  • Toh Mun Heng và Vasudevan Gayathri (2004); Tien Dung Nguyen và Mitsuo Ezaki (2005): Sử dụng các mô hình cân bằng tổng thể tính toán (CGE) và cơ sở dữ liệu GTAP 6.0 cùng khảo sát mức sống (VHLSS) để lượng hóa tác động của các hiệp định khu vực (AFTA, ACFTA) đến tăng trưởng, phúc lợi xã hội và phân phối thu nhập.
  • Alberto Gabriele (2005): Đánh giá chính sách dịch vụ chiến lược trong lĩnh vực năng lượng, viễn thông gắn với Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và tiến trình đàm phán gia nhập WTO.
  • Thai Bao Anh (2005): Phân tích 4 quy trình cải cách chính sách thương mại và đầu tư: cải cách thủ tục hành chính, xóa bỏ hạn chế đầu tư - thương mại, nâng cao tính minh bạch pháp lý và hài hòa hóa hệ thống luật pháp với chuẩn mực quốc tế.
  • Long (2007): Khảo sát các luồng kiều hối và tác động đến phúc lợi hộ gia đình qua các cuộc điều tra mức sống từ năm 1992 đến 2004.
  • Bui Thi Lan Huong (2008): So sánh mô hình thương mại và FDI dài hạn giữa Việt Nam (trong ASEAN) và Mexico (trong NAFTA).
  • Nguyen Tien Dung (2009); To Minh Thu (2010): Ứng dụng mô hình kinh tế lượng và CGE đánh giá tác động của các FTA Đông Á tới sản lượng các ngành nông nghiệp (lúa gạo), dệt may, da giày, máy móc.
  • Bui Trinh, Kobayashi Kiyoshi, Vu Trung Dien (2011): Sử dụng mô hình Leontief và Keynes phân tích nguyên nhân gia tăng thâm hụt thương mại của Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
  • Wong (2012): Đánh giá cải cách kinh tế và hội nhập trong khuôn khổ Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV).
  • Pham Thi Hong Hanh và Nguyen Thinh Duc (2013): Sử dụng phương pháp đồng tích hợp để phân tích mối liên hệ giữa FDI, xuất khẩu và tỷ giá hối đoái thực (RER).
  • Peterson và Duc Anh Dang (2013): Chứng minh vai trò của dòng vốn FDI trong việc thúc đẩy nâng cao chất lượng thể chế tại Việt Nam.
  • Gainsborough (2014); Kien (2014); Herr, Schweishelm và Truong (2016): Cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào bẫy tăng trưởng thấp, vị trí gia công giá trị thấp ở đáy chuỗi giá trị và đề xuất cải cách hệ thống thuế, xây dựng chính sách công nghiệp đồng bộ.
  • Nhóm tác giả (2016): Sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) phân tích tác động của ba loại hình hội nhập (tổng thể, tài chính, thương mại) tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 - 2015.

Các nghiên cứu ở trong nước về hội nhập kinh tế quốc tế

  • Bộ Ngoại giao (2002); Lưu Đạt Thuyết (2003); Ngô Văn Điểm (2004); Hoàng Quốc An (2004): Làm rõ cơ sở lý luận về toàn cầu hóa, tổng kết thực tiễn giai đoạn đầu đổi mới và bài học kinh nghiệm từ các nền kinh tế Đông Á.
  • Tô Xuân Dân và Nguyễn Thành Công (2006); Nguyễn Xuân Thắng (2007, 2010, 2011): Đi sâu luận giải tác động của HNKTQT đến tư duy lý luận, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mối quan hệ biện chứng giữa giữ vững độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập.
  • Phạm Quốc Trụ (2011); Đặng Đình Quý (2012): Khái quát bản chất, nội hàm hội nhập quốc tế từ mốc Đại hội VIII của Đảng (1996), phân loại 4 lĩnh vực hội nhập (kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội).
  • Nguyễn Thị Hồng Nhung (2013); Hoàng Văn Châu (2014); Bùi Thanh Sơn (2015); Nguyễn Thế Bính (2015); Nguyễn Tấn Vinh (2017); Hoàng Khắc Nam (2017); Phan Văn Rân (2018); Đỗ Ngọc Trâm (2019): Tập trung phân tích các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP/CPTPP, EVFTA), đánh giá thành tựu sau 30 năm đổi mới và dự báo bối cảnh quốc tế đến năm 2030.

Nhóm nghiên cứu về an ninh quốc gia trong hội nhập kinh tế

  • Nguyễn Quốc Nhật và Nguyễn Văn Ngừng (2001); Lê Văn Cương (2005): Đặt nền móng nghiên cứu lý luận bảo vệ ANQG trước các tác động của hội nhập kinh tế đối ngoại.
  • Phan Thanh Long (2004): Luận giải sự mở rộng nội hàm an ninh sang các phương diện phi quân sự dưới tác động của toàn cầu hóa.
  • Bùi Ngọc Quynh (2007); Nguyễn Văn Ngừng (2009, 2010): Phân tích bài toán an ninh kinh tế khi gia nhập WTO, tác động của hội nhập ASEAN và kinh tế thị trường tới tiềm lực quốc phòng - an ninh.
  • Nguyễn Văn Hưởng (2010); Ye Wei-ping (2010): Cảnh báo các thách thức về tội phạm công nghệ cao, giữ gìn bản sắc văn hóa, định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá an ninh kinh tế.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận khía cạnh kinh tế đơn thuần, hoặc phân tích an ninh kinh tế trong các giai đoạn ngắn, hiệp định cụ thể. Luận án chọn giải quyết khoảng trống: Đánh giá một cách hệ thống toàn bộ tiến trình HNKTQT của Việt Nam xuyên suốt giai đoạn 2001 - 2021 và phân tích tác động toàn diện đến ANQG (trọng tâm là an ninh chính trị và an ninh kinh tế) dưới lăng kính chuyên ngành Chính trị học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và khung phân tích: Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2001 và Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII). Khung phân tích khái niệm vận dụng các cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế (từ song phương, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế đến hội nhập toàn diện) và khái niệm ANQG theo Luật An ninh quốc gia năm 2004.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính, liên ngành và chuyên ngành chính trị học:

    • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Khảo sát tiến trình chuyển biến tư duy và hành động thực tiễn của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2021, bảo đảm tính logic và tính lịch sử.
    • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Hệ thống hóa, phân loại các dữ kiện thực tế về ký kết hiệp định, xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư để rút ra những kết luận khái quát.
    • Phương pháp phân tích chính sách: Đánh giá chu trình hoạch định, triển khai và điều chỉnh các chủ trương, chính sách hội nhập gắn với việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
    • Phương pháp tổng hợp, logic, so sánh, đối chiếu: So sánh dữ liệu giữa các giai đoạn, giữa cam kết song phương và đa phương, đối chiếu tác động tích cực và tiêu cực.
    • Phương pháp chuyên gia: Tiếp thu các góc nhìn chuyên sâu từ giới học giả, nhà quản lý chính sách và cán bộ an ninh.
    • Phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành: Tích hợp kiến thức của các ngành Chính trị học, Kinh tế học, Quan hệ quốc tế và Luật học.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng (IX, X, XI, XII, XIII), các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị; các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và các văn kiện điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế và tác động đến an ninh quốc gia của Việt Nam

Chương 1 phân loại và phân tích sâu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chủ đề: nhóm nghiên cứu về HNKTQT của Việt Nam; nhóm nghiên cứu về ANQG trong bối cảnh hội nhập; và nhóm các công trình lý giải mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở chỉ ra những giá trị khoa học đã đạt được cùng các điểm hạn chế của tài liệu hiện có, chương này xác định rõ tính tất yếu và hướng đi riêng của luận án: khảo sát toàn diện giai đoạn 2001 - 2021 dưới góc nhìn Chính trị học.

Chương 2. Lý luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế và tác động đến an ninh quốc gia

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết của đề tài thông qua việc phân tích các khái niệm, tính tất yếu khách quan, hình thức và cấp độ của HNKTQT; khái niệm ANQG và cơ chế tác động hai chiều giữa HNKTQT với ANQG:

  • Các cấp độ hội nhập kinh tế: Luận án hệ thống hóa 5 cấp độ phát triển của liên kết kinh tế quốc tế:
Cấp độ hội nhập Đặc điểm chính
1. Khu vực mậu dịch tự do (FTA) Cắt giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên; duy trì biểu thuế độc lập với nước ngoài khối.
2. Liên minh thuế quan (Customs Union) Thực hiện FTA và áp dụng chung một biểu thuế quan đối ngoại thống nhất đối với các nước ngoài khối.
3. Thị trường chung (Common Market) Bao gồm liên minh thuế quan và cho phép tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, dịch vụ).
4. Liên minh kinh tế (Economic Union) Bao gồm thị trường chung và thực hiện hài hòa, thống nhất các chính sách kinh tế, tiền tệ, tài chính.
5. Hội nhập kinh tế hoàn toàn Thống nhất toàn diện về chính sách kinh tế, tài khóa, tiền tệ và có cơ quan quản lý siêu quốc gia.
  • Tác động đến ANQG: Luận giải khái niệm ANQG theo Luật An ninh quốc gia (2004), tập trung vào an ninh chính trị và an ninh kinh tế. Tác động tích cực thể hiện ở việc nâng cao thực lực kinh tế, mở rộng không gian an ninh đối ngoại, gia tăng khả năng tiếp thu khoa học - công nghệ phục vụ quốc phòng - an ninh. Tác động tiêu cực thể hiện ở nguy cơ gia tăng phụ thuộc kinh tế, rủi ro biến động tài chính - tiền tệ quốc tế, sự phân hóa giàu nghèo và việc các thế lực bên ngoài lợi dụng quan hệ kinh tế để can thiệp nội bộ, chuyển hóa chính trị.

Chương 3. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2001 đến nay

Chương 3 tái hiện bức tranh toàn cảnh về tiến trình HNKTQT của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2021 qua việc đổi mới tư duy và kết quả triển khai thực tế:

  • Quá trình phát triển tư duy: Từ bước ngoặt ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW (2001) của Bộ Chính trị về "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội IX, X, XI, XII đã liên tục phát triển, chuyển từ "hội nhập kinh tế quốc tế" sang "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" toàn diện, đỉnh cao là việc ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW (khóa XII) về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập trong tình hình mới.
  • Kết quả hội nhập song phương và đa phương: Luận án tổng hợp các mốc quan hệ hợp tác và văn kiện đã xác lập tính đến hết năm 2021:
Nội dung hợp tác Số liệu thống kê đến hết năm 2021
Quan hệ ngoại giao chính thức 189 quốc gia (trong tổng số 193 thành viên Liên hợp quốc)
Quan hệ kinh tế - thương mại Hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ
Hiệp định thương mại song phương (BTA) Trên 90 hiệp định
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (BIT) Gần 60 hiệp định
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 54 hiệp định
Tham gia các định chế đa phương ADB, IMF, WB, WTO (2007), APEC (1998), ASEM (1996), ASEAN (1995)/AEC
Các FTA thế hệ mới đã ký và thực thi CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP
  • Hạn chế và nguyên nhân: Luận án chỉ ra các tồn tại: một số khuôn khổ đối tác chưa đi vào chiều sâu thực chất; độ mở nền kinh tế lớn nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa còn thấp; cơ cấu xuất khẩu phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp FDI; thể chế và hệ thống pháp luật trong nước chậm hoàn thiện, việc nội luật hóa các cam kết quốc tế (nhất là lao động, môi trường) gặp nhiều áp lực.

Chương 4. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến an ninh quốc gia Việt Nam từ năm 2001 đến nay, vấn đề đặt ra và giải pháp

Chương 4 tập trung làm rõ hai mặt tác động của HNKTQT đến an ninh chính trị và an ninh kinh tế của Việt Nam, nhận diện vấn đề và đề xuất giải pháp:

  • Tác động tích cực: Thúc đẩy tăng trưởng GDP, nâng cao tiềm lực vật chất cho quốc phòng - an ninh; duy trì môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao uy tín, vị thế chính trị quốc tế; tạo điều kiện ứng dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào công tác quản lý và bảo vệ an ninh.
  • Tác động tiêu cực: Làm tăng mức độ phụ thuộc vào thị trường và chuỗi cung ứng bên ngoài; nguy cơ mất an ninh tài chính - tiền tệ; gia tăng tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao; làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh gay gắt, phân hóa giàu nghèo; tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng đầu tư, thương mại và các cam kết phi thương mại (như tiêu chuẩn lao động của ILO) để tiến hành hoạt động gián điệp, cài cắm nội gián, phá hoại an ninh tư tưởng và thể chế chính trị.
  • Vấn đề đặt ra và quan điểm chỉ đạo: Cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với công tác đối ngoại và an ninh.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất (7 nhóm):
    1. Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước về kinh tế và an ninh;
    2. Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và toàn dân; chú trọng bảo vệ chính trị nội bộ, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch;
    3. Phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam;
    4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập;
    5. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật, nội luật hóa đúng lộ trình các điều ước quốc tế;
    6. Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo đảm an ninh trong quá trình hội nhập;
    7. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận:

    • Làm rõ và hệ thống hóa các khái niệm, tính tất yếu, hình thức và cấp độ của HNKTQT dưới góc nhìn chuyên ngành Chính trị học.
    • Phân tích cơ chế tác động biện chứng hai chiều giữa HNKTQT và ANQG, bổ sung luận cứ khoa học khẳng định hội nhập kinh tế là trọng tâm nhưng phải luôn gắn kết hữu cơ với nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và an ninh kinh tế.
    • Làm phong phú thêm lý luận về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về thực trạng HNKTQT của Việt Nam trong suốt giai đoạn 2001 - 2021 trên cả hai bình diện song phương và đa phương.
    • Đánh giá khách quan những mặt tích cực và tiêu cực mà HNKTQT tác động đến ANQG Việt Nam; nhận diện các nguy cơ can thiệp, chuyển hóa chính trị và rủi ro lệ thuộc kinh tế.
    • Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp có tính khả thi, phục vụ công tác hoạch định chính sách đối ngoại, kinh tế và quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ thực thi các FTA thế hệ mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Khung thời gian khảo sát thực tế của đề tài dừng lại ở mốc cuối năm 2021. Luận án tập trung phân tích ANQG chủ yếu trên hai phương diện cốt lõi là an ninh chính trị và an ninh kinh tế, do đó chưa đi sâu phân tích toàn diện các phương diện an ninh phi truyền thống khác như an ninh môi trường, an ninh năng lượng hoặc an ninh dữ liệu số.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục khảo sát, đánh giá tác động của việc thực thi đầy đủ các cam kết FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP) trong giai đoạn sau năm 2021 dưới tác động của biến động địa chính trị toàn cầu; mở rộng phân tích tác động của hội nhập tới an ninh mạng và an ninh chuỗi cung ứng quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế gắn với bảo vệ Tổ quốc.
    • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu trong các ngành Chính trị học, Quan hệ quốc tế, Kinh tế quốc tế, Quản lý nhà nước và Luật học.
    • Lực lượng vũ trang nhân dân: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế và tội phạm xuyên quốc gia.
  • Nội dung đáng tham khảo: Phần hệ thống hóa dữ liệu đàm phán, ký kết hiệp định (Chương 3), khung phân tích tác động hai mặt đến an ninh chính trị và an ninh kinh tế cùng hệ thống 7 nhóm giải pháp quản lý nhà nước (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mốc thời gian và không gian nghiên cứu như thế nào?

Luận án nghiên cứu các hoạt động HNKTQT của Việt Nam được triển khai ở cả trong nước và trên trường quốc tế, với phạm vi thời gian khảo sát số liệu và thực tiễn kéo dài từ năm 2001 (thời điểm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế) đến hết năm 2021.

2. Luận án tiếp cận khái niệm An ninh quốc gia theo khuôn khổ pháp lý nào?

Luận án tiếp cận khái niệm ANQG dựa trên quy định tại Luật An ninh quốc gia năm 2004 của Việt Nam, trong đó tập trung nghiên cứu sâu ở hai góc độ then chốt là bảo đảm an ninh chính trị (sự ổn định của chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảng) và an ninh kinh tế (sự ổn định vĩ mô, khả năng tự chủ của nền kinh tế).

3. Đến hết năm 2021, Việt Nam đã đạt được những dấu mốc hội nhập kinh tế cụ thể nào?

Tính đến hết năm 2021, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định tránh đánh thuế hai lần; đồng thời là thành viên của WTO, APEC, ASEM và tham gia các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP.

4. Tác động tiêu cực của HNKTQT đến an ninh chính trị được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra rằng các thế lực thù địch có thể lợi dụng mở cửa kinh tế và các cam kết quốc tế phi thương mại (như vấn đề tiêu chuẩn lao động của ILO) để thâm nhập nội bộ, cài cắm nội gián, tiến hành "diễn biến hòa bình", thúc đẩy chuyển hóa chính trị từ bên trong nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng và nền tảng tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

5. Luận án đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp nhằm bảo đảm an ninh quốc gia trong hội nhập?

Luận án đề xuất 7 nhóm giải pháp đồng bộ, bao gồm: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; nâng cao nhận thức và bảo vệ chính trị nội bộ; phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh; và xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 2001 đến nay và tác động đến an ninh quốc gia" của nghiên cứu sinh Hoàng Quốc Ca là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới lăng kính Chính trị học. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế và an ninh quốc gia, đồng thời đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn 20 năm hội nhập (2001 - 2021) của Việt Nam. Công trình nhận diện rõ các tác động tích cực và nguy cơ tiêu cực đối với an ninh chính trị và an ninh kinh tế, từ đó đề xuất 7 nhóm giải pháp có giá trị tham khảo cao cho công tác hoạch định chính sách đối ngoại và bảo đảm an ninh quốc gia.