Chương 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE HOI NHAP KINH TE QUOC TE VÀ TÁC ĐỘNG DEN AN NINH QUOC GIA CUA VIET NAM 1. Nhóm công trình nghiên cứu về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Những năm gần đây, hội nhập quốc tế, nhất là HNKTQT đặc biệt thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu ở nước ngoài va trong nước. Khi đề cập vẫn đề này, không ngạc nhiên khi có khá nhiều các công bố khoa học dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau và trong số đó có không ít liên quan đến định hướng nghiên cứu của đề tài luận án.
Có thé khái quát những nghiên cứu liên quan theo hai nhóm sau: 1.1, Các nghiên cứu ở nước ngoài - O'Rourke, Dara (1995), “Economics, Environment, and Equity: Policy Integration during Development in Vietnam”, Berkeley Planning Journal (Univ. of California), 10, pp. [98] Trong công trình nghiên cứu nay, tác gia khang định rang xung đột giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội là những nỗ lực thúc đây phát triển bền vững. Tác giả đề xuất một khung đơn giản hóa dé tích hợp các chính sách kinh tế, môi trường và xã hội nhằm thúc day sự phát triển bền vững về mặt sinh thái và xã hội.
Bài viết phân tích các hình thức cụ thể mà các lĩnh vực chính sách này đang giả định ở Việt Nam và các lực lượng chính tri cơ bản (cả bên trong và bên ngoài) thực hiện chính sách thúc day. Phân tích cho thay các mô hình phát triển khó có thé bị thay đổi theo hướng kết thúc bền vững hon theo các thé chế và luật pháp hiện hành. Cuối cùng, bài viết thảo luận về tiềm năng tích hợp các chính sách hiện tại dé đạt được các mục tiêu bền vững. (1998), “Integration into the Global Economy”, in: Griffin K.), Economic Reform in Vietnam”, (London: Palgrave Macmillan).
[97] 17 Tác giả đánh giá từ giữa những năm 1980, Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cau. Hai chỉ số chính của sự hội nhập ngày càng tăng vào nền kinh tế thế giới là: (1) sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng giao dịch bên ngoài; (2) thành công trong việc thu hút một lượng lớn nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nghiên cứu góp phần phân tích các chính sách lý giải sự thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu; đề cập về ảnh hưởng của hội nhập với nên kinh tế toàn cầu đối với tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập; và xem xét các điều chỉnh trong các chính sách mà Việt Nam nên thực hiện để có được lợi thế lớn nhất có thé từ các cơ hội do nền kinh tế thé giới trong bối cảnh toàn cầu hóa mang lại. - Rhys Jenkins (2004), “Vietnam 1n the global economy: trade, employment and poverty”, Journal of International Development, Vol.
[100] Nghiên cứu khang định Việt Nam đã trải qua một sự thay đổi đáng ké từ một nền kinh tế tương đối khép kín do kết quả của quá trình cải cách bắt đầu vào cuối những năm 1980. Điều này đã đi liền với tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và giảm nghèo đáng kể trong những năm 1990. Tác giả xem xét tác động của dòng chảy thương mại quốc tế đối với việc làm tại Việt Nam ké từ đầu những năm 1990. Sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng của xuất khẩu đã có tac động tích cực đáng kế đến vẫn đề việc làm ở Việt Nam, trong khi cạnh tranh nhập khẩu gia tăng có tác động tiêu cực, trực tiếp và gián tiếp, bởi việc các nhà sản xuất phải đối mặt với cạnh tranh nước ngoài.
- Nguyen Manh Hung (2004), “Vietnam: Facing the Challenge of Integration”, Southeast Asian Affairs, ISEAS-Yusof Ishak Institute (USA), Volume 2004, pp. [94] 18 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả khăng định, khi Việt Nam bắt đầu tìm kiếm sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì quá trình này cũng đối mặt với rất nhiều thách thức đặt ra. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ thách thức với Việt Nam va là một van đề lớn làm cản trở đầu tư nước ngoài và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính phủ, thậm chí tham nhũng đã trở thành một vẫn đề nóng trong các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và các nhà tài trợ quốc tế. - Toh Mun Heng, Vasudevan Gayathri (2004), “Impact of Regional Trade Liberalization on Emerging Economies: The Case of Vietnam”, ASEAN Economic Bulletin (SEAS-Yusof Ishak Institute), Vol.
[102] Công trình nghiên cứu này cung cap một đánh giá về chiến lược hội nhập tự do hóa thương mại khu vực của Việt Nam. Tự do hóa thương mại thông qua việc tham gia Hiệp định thương mại tự do khu vực (FTA), như Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), cũng đã cung cấp cho Việt Nam những bài hoc và kinh nghiệm hữu ich dé đây mạnh phát triển kinh tế trong nước. Sử dung các mô hình cân bằng chung tính toán, tác giả tiến hành phân tích tác động định lượng của các dạng thức khác nhau của các khu vực thương mại tự do khu vực đối với Việt Nam. Kết quả chỉ ra rằng việc tham gia nhiều hơn vào các FTA có thé mang lại lợi thế kinh tế lớn hơn và chi phí điều chỉnh thấp hơn cho những nỗ lực của Việt Nam trong công nghiệp hóa và thúc đây chuyên dịch cơ cấu nền kinh tế.
- Tien Dung Nguyen, Misuo Ezaki (2005), “Regional Economic Integration and Its Impacts on Growth, Poverty and Income Distribution: The Case of Vietnam”, Review of Urban and Regional Development Studies, Vol. [87] 19 Trong công trình nghiên cứu nay, hai tác giả đã chi ra được những tác động của quá trình hội nhập kinh tế khu vực đến Việt Nam, tập trung vào tăng trưởng, giảm nghèo và phân phối thu nhập. Đặc biệt, nghiên cứu đã xây dựng thành công mô hình cân bằng tổng thể tính toán được liên kết toàn cầu và sử dụng cơ sở dữ liệu của Dự án phân tích thương mại toàn cầu phiên bản 6.0 và khảo sát mức sống của Việt Nam. Các phân tích cho thấy hội nhập kinh tế khu vực nói chung có tác động tích cực, vừa giup tăng cường phúc lợi vừa cải thiện thu nhập - phân phối cho Việt Nam.
Thu nhập hộ gia đình và tiêu dùng tăng, các nhóm hộ nghèo và nông thôn được hưởng lợi nhiều hơn các nhóm thu nhập cao ở thành thị. - Alberto Gabriele (2005), “Strategic Services Policies and International Trade Integration in Vietnam”, Journal of Economic Integration, Vol. [81] Trọng tâm của nghiên cứu này là phân tích các chính sách dịch vụ cua Việt Nam và đánh giá hiệu quả và tính nhất quán của chúng, trong khuôn khổ HNKTOQT ngày càng tăng của Việt Nam. Trong số các lĩnh vực dịch vụ, tác giả tập trung vào một nhóm nhỏ, cụ thé là dịch vụ chiến lược, đặc biệt là về năng lượng và viễn thông.
Trên cơ sở phác thảo một vài sự kiện cơ bản về nền kinh tế Việt Nam. nhắn mạnh vai trò chính của dich vụ chiến lược và mô ta các nguyên lý chính của cải cách kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ; tác giả phân tích khía cạnh thương mại quốc tế của các chính sách dịch vụ tại Việt Nam, được đặc trưng bởi việc ký kết Hiệp định thương mại song phương (BTA) gần đây với Mỹ và bởi các cuộc đàm phán đa phương đang diễn ra nhằm tiếp cận WTO; và cuối cùng tập trung vào các chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ chiến lược. - Thai Bao Anh (2005), “Trade and Investment Policy Reform in Việt Nam: Integration to the World Economy and Accession to the World Trade Organization”, Policy Brief 37 (Univ. [82] 20 Tác giả nhận định từ khi tiến hành đổi mới với một mục tiêu chính: chuyển đổi nền kinh tế dần dần từ mô hình tập trung và kế hoạch cao sang định hướng thị trường, với một nên kinh tế tăng trưởng nhanh.
Trong số các cải cách chính sách, thương mại và đầu tư là một trong những cốt yếu quan trọng nhất và đã góp phần tăng trưởng thương mại Việt Nam trong các các thập kỷ qua. Cải cách chính sách thương mại và đầu tư có hai mục tiêu chính. Mục tiêu đầu tiên là để nuôi nền kinh tế thiếu vốn bằng cách tạo ra một môi trường đầu tư an toàn và lành mạnh dé thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân. Mục tiêu thứ hai là tự do hóa thương mại trong nước và thúc đây xuất khẩu.
Dé đạt được các mục tiêu này, thương mại và đầu tư được cải cách thông qua bốn quy trình: (1) cải cách thủ tục hành chính, (ii) xóa bỏ các hạn chế về đầu tư và thương mai, (iii) cải thiện tính minh bạch pháp lý va (iv) hài hòa hệ thống pháp luật với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong nghiên cứu, tác giả đều thảo luận về bốn cách thức trên trong quá trình thực hiện cải cách và những vấn đề đặt ra, thách thức đối với các nỗ lực của chính phủ cho đến nay cùng một số khuyến nghị đối với công cuộc cải cách dé phù hợp với tiễn trình hội nhập. Long (2007), “Remittances in Vietnam during Economic Integration: Characteristics and Impacts on Household Welfare”, The 3" VDF-Tokyo Conference on the Development of Vietnam, Proceedings. [106] Ké từ khi hội nhập vào những năm 1990, Việt Nam đã trải qua một sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các dòng chuyên tiền, bao gồm chuyển khoản trong nước và chuyên từ nước ngoài.
Đối với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã khảo sát mức sống Việt Nam năm 1992/93 và 1997/98 và khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2002 và 2004 đề nghiên cứu tác động của các dòng chuyền tiền quốc tế đến các hộ gia đình Việt Nam với mục tiêu mô tả các khoản thu chuyên tiền quốc tế và sự phát triển của chúng theo thời gian để xác định chúng đến từ đâu, bao nhiêu phần trăm hộ gia đình nhận được 21 chúng, và phan chi tiêu hộ gia đình mà chúng đại diện. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng phân tích các đặc điểm kinh tế xã hội và nhân khẩu học của những hộ gia đình nhận chuyền tiền quốc tế, cũng như cách người gửi chuyên tiền có liên quan đến người nhận va cách chi tiêu của các hộ gia đình. Nghiên cứu cũng xem xét hệ quả của mối quan hệ giữa kiều hối và bất bình dang trong bối cảnh hội nhập ngày càng mạnh mẽ hơn ở Việt Nam.