Lời mở đầu Sự tác động qua lại giữa quyết định đầu tư và quyết định tài trợ đang là vấn đề quan tâm hàng đầu tại các doanh nghiệp. Quyết định lựa chọn nguồn tài trợ nào có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư tại doanh nghiệp bởi vì thuế, chi phí đại diện và vấn đề thông tin bất cân xứng về nợ và vốn cổ phần sẽ ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, cân nhắc trong việc sử dụng nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, và thay đổi những dự án khác nhau. Để định hướng được nguồn tài trợ nào cho quyết định đầu tư như thế nào thì dòng tiền tại doanh nghiệp là một trong những cơ sở quan trong để doanh nghiệp để doanh nghiệp tiến hành đầu tư và phân bổ vốn cho hiệu quả. Về mặt lý thuyết, một doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn khi dòng tiền tại doanh nghiệp gia tăng nhiều vì ba lý do: - Chi phí sử dụng nguồn vốn nội bộ rẻ hơn so với vốn huy động từ bên ngoài.
(gọi là giới hạn tài chính) - Nhà quản lý sẽ chi tiêu nhiều hơn đối với nguồn vốn sẵn có bên trong doanh nghiệp. - Dòng tiền có mối tương quan với cơ hội đầu tư ( trong lý thuyết Q) Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới liên quan đến độ nhạy cảm của đầu tư đối với dòng tiền của doanh nghiệp, và đã phát hiện ra dòng tiền là một trong những yếu tố rất quan trọng tác động đến quyết định đầu tư tại các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, về mảng nghiên cứu này hiện nay còn rất ít, do đó tác giả chọn đề tài “Tác động của dòng tiền đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình nhằm nghiên mức độ nhạy cảm của đầu tư đối với dòng tiền. 2 Mục tiêu nghiên cứu Với định hướng nghiên cứu của mình, tác giả mong muốn có thể đưa ra những luận cứ khoa học đáng tin cậy về tác động dòng tiền đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam.
Mẫu dữ liệu được thu thập từ các công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Bài luận văn sử dụng kỹ thuật phân tích định lượng thông qua việc ước lượng mô hình nghiên cứu bằng nhiều phương pháp kinh tế lượng khác nhau: pooled OLS, REM, FEM, 2SLS và GMM để tìm câu trả lời cho hai vấn đề chính sau: - Dòng tiền có thực sự tác động đến quyết định đầu tư tại doanh nghiệp không? - Mức độ tác động của dòng tiền đến quyết định đầu tư là như thế nào? Quyết định đầu tư được nghiên cứu trong bài được xem xét một cách toàn diện. Bài nghiên cứu xem xét tất cả các phương thức mà doanh nghiệp sử dụng dòng tiền của mình. Dòng tiền của doanh nghiệp được sử dụng qua 7 cách thức: gia tăng tiền mặt, đầu tư vào vốn lưu động, mua tài sản cố định hữu hình và các tài sản khác, mua lại công ty khác, thanh toán nợ, tăng giảm nguồn vốn của công ty và chi trả cổ tức.
Tính mới và đóng góp của đề tài Bài nghiên cứu thực nghiệm đã tìm thấy được mối quan hệ tuyến tính giữa dòng tiền và quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Ứng dụng được phương pháp GMM trên dữ liệu bảng nhằm khắc phục được nhược điểm của bộ dữ liệu thời gian và gia tăng độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa đầu tư và dòng tiền Hiện nay trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các dẫn chứng khoa học về các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Sean Cleary,1999 “The relationship between Firm Investment and Finacial Status” đã nghiên cứu mức độ nhạy cảm của quyết định đầu tư đối với tình hình thanh khoản của doanh nghiệp, bằng cách phân loại các công ty trong mẫu quan sát gồm 1317 công ty từ 1988 - 1994 theo chỉ số khả năng huy động nguồn tài chính từ bên ngoài và tỷ lệ chi trả cổ tức.
Sean Cleary đã thấy được rằng quyết định đầu tư của những doanh nghiệp có hệ số chi trả cao có mức độ nhạy cảm đối với dòng tiền bên trong doanh nghiệp nhiều hơn là những doanh nghiệp có hệ số chi trả kém.Rauh, 2006 với bài nghiên cứu “Investment and Financing Constraints: Evidence from the Funding of Corporate Pension Plans”. Trong bài nghiên cứu này tác giả xem xét sự tác động của việc trích quỹ lương hưu (defined benefit pension plans) đến khoản chi tiêu đầu tư (Capital expenditures) với một mẫu quan sát lớn 1522 công ty từ năm 1990-1998. Một công ty tài trợ cho kế hoạch lương hưu (defined benefit pension plans) phải dùng các nguồn tài chính của mình để tạo ra các quỹ lương hưu (pension funds) theo những quy định của pháp luật. Những việc trích quỹ như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài chính của công ty.
Nếu một công ty bị khó khăn tài chính, việc trích các quỹ này sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư như đâu tư mới, áp dụng nghiên cứu và phát triển của công ty và mua lại công ty khác. Một công ty không thể xây dựng nhà xưởng mới, đưa ra các dự án nghiên cứu mới hoặc thuê thêm nhân viên nếu nguốn tiền mặt cần để thành lập quỹ lương hưu. Trong kế hoạch lương hưu, công ty phải đảm bảo những quyền lợi khi nghỉ hưu của những nhân viên theo một cách thức mà có thể tổng hợp độ tuổi, chức vụ và lương của những nhân viên. Từ đó tác giả phát hiện ra việc trích các quỹ lương hưu tác động mạnh đến khoản chi tiêu đầu tư: Bài nghiên cứu phát hiện ra một đồng quỹ bắt buộc tăng thêm sẽ làm cắt giảm khoản đầu tư từ 0.
Đồng thời tác giả cũng phát hiện ra mức độ nhạy cảm của đầu tư và dòng tiền khoảng 0. 4 Cũng như những bài nghiên cứu khác, “Investment cash flow sensitivity: Fact or fiction?” (2012) của Agca, Senay and Abon Mozumdar là một nhánh nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính kinh tế phân tích mối quan hệ giữa đầu tư và tài chính. Tác giả nghiên cứu sự biến động tự nhiên của dòng tiền nhằm tìm ra bằng chứng về dòng tiền nội bộ trong doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng đối với đầu tư tại doanh nghiệp. So với các nghiên cứu thực nghiệm trước khi nghiên cứu về độ nhảy cảm của quyết định đầu tư đối với dòng tiền chỉ xem xét về đầu tư thông qua chỉ tiêu đầu tư vào tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác, bài nghiên cứu “Investment and cashflow: New evidence” của Jonathan Lewellen và Katharina Lewellen (2012), tác giả đã không chỉ đơn thuần là nghiên cứu về đầu tư mà đã cung cấp một cái nhìn toàn diện và đầy đủ về dòng tiền của công ty.
Bài nghiên cứu đã xem xét tất cả các phương thức mà doanh nghiệp sử dụng dòng tiền của mình. Dòng tiền của doanh nghiệp được sử dụng qua 7 cách thức: gia tăng tiền mặt, đầu tư vào vốn lưu động, mua tài sản cố định hữu hình và các tài sản khác, mua lại công ty khác, thanh toán nợ, tăng giảm nguồn vốn và chi trả cổ tức. Về phương pháp thực nghiệm, Sean Cleary,1999 dùng phương pháp hồi quy FEM với dữ liệu bảng thu thập được để đưa ra kết quả nghiên cúu.Rauh (2006) và Jonathan Lewellen cùng với Katharina Lewellen, (2012) đã dùng phương pháp 2SLS khắc phục được vấn đề sai số trong đo lường. Với phương pháp GMM, Agca, Senay and Abon Mozumda (2012) đã đưa ra một bằng chứng đáng tin cậy cho nghiên cứu thực nghiệm của mình không những giải quyết được vấn đề đo lường trong sai số mà còn giải quyết các vấn đề khác như hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Do đó phương pháp này mang lại tính vững và tính hiệu quả hơn cho kết quả thu được. Agca, Senay and Abon Mozumda (2012) sau khi phân tích chi tiết để giải quyết vấn để đo lường trong sai số trong lý thuyết q, tác giả đã cho rằng dòng tiền là một yếu tố quan trong đối với quyết định đầu tư. Mức độ nhạy cảm của quyết định đầu tư vẫn là cùng chiều và có ý nghĩa nhưng thấp hơn so với với phương pháp OLS. Tác giả cũng phát hiện ra sự nhạy cảm của quyết định đầu tư đối với dòng 5 tiền vẫn tiếp tục có ý nghĩa trong suốt thời gian khủng hoảng mặc dù giảm dần theo thời gian.
Lý thuyết mối liên hệ giữa đầu tư và dòng tiền 2.1 Khái niệm về đầu tư Theo cách hiểu thông thường trong kinh tế học, đầu tư được định nghĩa như là việc sử dụng, theo bất cứ cách nào, các nguồn lực với mục đích làm tăng sản lượng hay thu nhập trong tương lai. Từ điển Phân tích Kinh tế của Bernard Guerrien (2007 [2002]: 47) định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: “Tác vụ - của một doanh nghiệp hay một nước - nhằm gia tăng quỹ tư liệu sản xuất (máy móc, trang thiết bị các loại, hạ tầng cơ sở, sản phẩm các loại, kể cả việc thu thập kiến thức và đào tạo con người), để sản xuất trong tương lai.2 Lý thuyết Q - Lý thuyết về đầu tư: Trong bài nghiên cứu của mình, Jonathan Lewellen và Katharina Lewellen(2012) đã chia lý thuyết Q theo hai trường hợp sau: 2.1 Mô hình lý thuyết đầu tư không có chi phí tài trợ (non-financing cost) Mô hình gốc về lý thuyết đầu tư: giá trị của một công ty là giá trị chiết khấu của dòng cổ tức chi ra trong tương lai .