Chương I: Giới thiệu Chương II: Cơ cở lý luận và thực tiễn về lao động di cư nông thôn. Chương III: Số liệu và phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kiến nghị chính sách Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG DI CƯ NÔNG THÔN.1 Khu vực nông thôn Theo Điều 3 Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông thôn được định nghĩa là:”phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”. Nông thôn có các đặc điểm sau: - Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác.
- Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên: nhà, vườn, ao, ruộng, thường gắn với những điều kiện địa lý có sẵn (thường chiếm từ 50% lao động trở lên), trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình. - Chính trị ở nông thôn: ngoài hệ thống chính quyền xã, ấp, thôn do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng tộc, già làng, thân thuộc, tôn giáo… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục lệ hay quy ước. - Văn hoá nông thôn chủ yếu là văn hoá dân gian, thông qua lễ, hội… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống, nhưng nó cũng chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sự phát triển.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Di cư Ở mỗi góc độ và tùy vào lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, thậm chí tùy quan niệm của các nhà nghiên cứu, di cư được xác định với những khác biệt nhất định. Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư. Theo nghĩa hẹp, di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhất định (Liên hiệp quốc).
Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới (Đặng Nguyên Anh, 2007). Di cư có thể được phân chia thành nhiều hình thức khác nhau tùy vào từng khía cạnh cụ thể. Chẳng hạn như di cư quốc tế và di cư nội địa - theo địa bàn nơi đến. Theo độ dài thời gian, chúng ta có di cư tạm thời, di cư lâu dài, di cư mùa vụ, di cư con lắc.
Theo đặc trưng di cư, có thể phân ra di cư có tổ chức, di cư tự phát. Một điểm cần lưu ý trong khái niệm di cư là sự cấu thành của nó, bao gồm hai yếu tố xuất cư và nhập cư, được phân chia dựa trên quy ước là sự chuyển đến hay rời khỏi một nơi nào đó. Sự chênh lệch giữa xuất cư và nhập cư được gọi là di cư thuần túy. Trong đề tài này, luận văn sử dụng định nghĩa về di cư theo nghĩa hẹp như trên, tức là di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhất định.
Theo độ dài thời gian, di cư trong đề tài này được xác định trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 2 năm. Trong giới hạn thời gian như trên, di cư được xác định là di cư tạm thời. Cũng theo sự phân chia đặc điểm ở trên, di cư được giới hạn là di cư tự do (không theo các chương trình có tổ chức của Nhà nước). Định nghĩa này khác với định nghĩa được nêu ra trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở với mốc thời gian là 5 năm và thường là theo hình thức di cư lâu dài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Lao động di cư Theo định nghĩa của Tổ chức Di dân quốc tế (International Organization for Migration - IOM), lao động di cư (tạm dịch từ labour migration) (nhiều tài liệu sử dụng thuật ngữ lao động di cư, trong đề tài này luận văn lựa chọn sử dụng lao động di cư nhưng với cách hiểu tương tự) được xác định là việc những người di chuyển khỏi chỗ ở của mình tới một quốc gia khác hoặc một vùng khác trong cùng một quốc gia vì mục tiêu tìm kiếm việc làm. IOM cũng lưu ý rằng hiện trên thế giới chưa thống nhất một định nghĩa chính thức về thuật ngữ này. Cũng theo tổ chức này, di dân kinh tế (economic migrant) đôi khi được sử dụng giống như lao động di cư dù rằng nội hàm của hai thuật ngữ này có những điểm khác biệt. Lao động di cư chỉ được sử dụng để mô tả việc di chuyển vì mục tiêu tìm kiếm công việc.
Trong khi đó, di cư kinh tế được sử dụng theo cả nghĩa hẹp (chỉ mô tả việc di chuyển vì mục đích tìm việc làm) và nghĩa rộng (việc di chuyển nhằm thực hiện các hoạt động kinh tế khác như đầu tư hoặc đi du lịch).4 Lao động di cư nông thôn Trong mục phân loại di cư, di cư nội địa được chia thành nhiều loại bao gồm di cư nông thôn - nông thôn, di cư nông thôn - đô thị, di cư đô thị - nông thôn và di cư đô thị - đô thị. Trong phạm vi của đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng là lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và di cư từ vùng nông thôn này sang các vùng nông thôn khác. Khái niệm lao động di cư nông thôn có thể được xác định dựa trên việc kết hợp 2 khái niệm đã được trình bày ở trên: di cư và lao động di cư. Theo đó, lao động di cư nông thôn được hiểu là việc những người lao động rời khỏi nơi cư trú của mình (một cách tự phát) ở các vùng nông thôn để tới các đô thị hay những vùng nông thôn khác nhằm tìm kiếm việc làm.5 Mức sống hộ gia đình Mức sống (standards of living) hộ gia đình là một khái niệm phức hợp để chỉ điều kiện sống nhiều mặt của hộ gia đình và thường được đo lường bằng các tiêu chí khác nhau như thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ nghèo, tiếp cận dịch vụ y tế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tuổi thọ, tiếp cận với giáo dục có chất lượng.
Bản thân trong khái niệm đã có hàm ý về mức độ tốt/kém về điều kiện sống. Vì là một khái niệm tổng hợp nên việc đánh giá mức sống hộ gia đình phải căn cứ trên nhiều khía cạnh: kinh tế, xã hội, tâm lý, sức khỏe, giáo dục…Về khía cạnh kinh tế, điều kiện sống của hộ có thể được thể hiện qua hai chỉ báo cụ thể là thu nhập và chi tiêu của hộ. Thông thường, thu nhập và chi tiêu càng cao thì mức sống hộ gia đình càng cao. Đi sâu hơn nữa, nhiều nghiên cứu có thể tìm hiểu cơ cấu thu nhập và chi tiêu của hộ để có nhận xét xác đáng hơn về khía cạnh kinh tế của hộ gia đình.
Về khía cạnh xã hội, khái niệm vốn xã hội có thể được coi là một chỉ báo về mặt này. Một hộ gia đình tham gia nhiều nhóm, cộng đồng, và tổ chức sẽ có xu hướng nhận được nhiều sự giúp đỡ thông qua mạng lưới quan hệ mà họ có. Về khía cạnh tâm lý, mức sống hộ được cho là tốt nếu các thành viên chung sống với nhau thoải mái, vui vẻ và hạnh phúc. Chỉ báo cụ thể đo lường khía cạnh này có thể là mức độ hài lòng của mỗi thành viên trong hộ khi sống cùng nhau.
Về khía cạnh sức khỏe, một hộ gia đình được đánh giá là khỏe nếu họ đạt được điểm số cao cho các chỉ báo về tình trạng thể chất, tinh thần, vận động…Về khía cạnh giáo dục, một hộ gia đình có nhiều thành viên đạt được các cấp học cao chứng tỏ hộ có điều kiện về giáo dục tốt. Tuy có thể phân định các thành tố của khái niệm mức sống hộ gia đình, mỗi khía cạnh cấu thành nên khái niệm này đều có quan hệ tương tác lẫn nhau. Việc đánh giá mức sống hộ gia đình cần dựa trên càng nhiều khía cạnh và góc nhìn càng tốt. Để hiểu rõ hơn về khái niệm mức sống, phần dưới đây sẽ cung cấp một số định nghĩa cơ bản về một số khía cạnh trong mức sống hộ gia đình.
Thu nhập: là phần chênh lệch giữa khoản thu về và khoản chi phí đã bỏ ra. Loại thu nhập này lại gồm thu nhập từ lao động (tiền công, tiền lương bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp bao gồm cả học bổng) và thu nhập tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu từ cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác (tiền thưởng,. Thu nhập không bao gồm các khoản thu nhập bất thường (không biết trước) như: trúng xổ số, cá độ các loại, nhận hối lộ vãng lai, thừa kế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chi tiêu: Một cách khái quát, chi tiêu là việc dùng tiền vào một mục đích nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân hoặc tập thể.
Dựa vào định nghĩa, ta có thể phân ra làm các loại chi tiêu như chi tiêu cho tiêu dùng, chi tiêu cho đầu tư, chi cho giáo dục. Sức khỏe: Theo quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật. Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo,chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào.