Tác Động Của Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Đến Xuất Nhập Khẩu Tại Việt Nam

Chuyên khảo phân tích La nguyenthithuong, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Kinh Tế Đầu Tư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

208
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Của FDI Đến Xuất Nhập Khẩu

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xã hội ở các quốc gia đang phát triển, bao gồm Việt Nam. FDI không chỉ gia tăng vốn, năng lực sản xuất, tạo việc làm mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh và tiếp cận thị trường quốc tế, đặc biệt là thúc đẩy hoạt động ngoại thương. Tại Việt Nam, sau Đổi mới (1986) và ban hành Luật đầu tư nước ngoài (1987), nền kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, dòng FDI vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội. Việc Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho đầu tư cả trong và ngoài nước, đồng thời cũng là một thách thức mới cho Việt Nam. Do đó, cần phải hiểu rõ được vai trò của nguồn vốn FDI trong nền kinh tế, để từ đó đề ra được những chính sách thích hợp nhằm thu hút FDI và tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực FDI.

1.1. Vai Trò Của FDI Trong Tăng Trưởng Xuất Nhập Khẩu

Cùng với sự gia tăng của nguồn vốn FDI, hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam cũng diễn ra rất sôi động và đạt được những thành tựu đáng kể. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc từ năm 2001 đến năm 2018. Đặc biệt, năm 2018 là năm thứ 3 liên tiếp, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam có thặng dư (xuất siêu). Hiện nay, tất cả 63 tỉnh/thành phố của Việt Nam đều có sản phẩm xuất khẩu. Việt Nam đã có các thị trường xuất siêu lớn như Hoa Kỳ, Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất, Anh, Campuchia, Hồng Kông, Hà Lan, Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha, Australia, Áo, Italy, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ. Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, hàng dệt may, điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, giầy dép các loại… thành công mà trước đây không ai có thể nghĩ đến. Xuất khẩu tăng mạnh đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá… Đối với Việt Nam, xuất khẩu đã trở thành lối ra, là động lực của tăng trưởng kinh tế.

1.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

Những nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển và có điều kiện tương đồng như Việt Nam đã chỉ ra ba nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển mạnh của hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm: (i) kết quả của việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền nền kinh tế thị trường và tự do hóa thương mại; (ii) sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có định hướng xuất khẩu; (iii) việc tiếp nhận khối lượng lớn FDI cùng với tốc độ phát triển nhanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

II. Thách Thức Từ FDI Ảnh Hưởng Đến Cán Cân Thương Mại

Thực tế hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã cho thấy sự đóng góp quan trọng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI) chiếm tới trên 71% và gần 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu cả nước. Các mặt hàng xuất nhập khẩu dẫn đầu đều có sự góp mặt của các DN FDI. Ngoài việc các DN FDI thực hiện xuất khẩu cho chính mình, các DN này còn giúp chuyển giao công nghệ, tri thức, phát triển nguồn nhân lực, từ đó góp phần nâng cao cơ hội và khả năng xuất khẩu cho các DN trong nước. Ngoài ra, việc liên kết sản xuất giữa các DN FDI và các DN trong nước cũng giúp cải thiện khả năng sản xuất của các DN nội địa, từ đó làm tăng khả năng xuất khẩu và giảm nhập khẩu của Việt Nam. Thêm vào đó, sự xuất hiện của các DN FDI cũng góp phần làm giảm nhập khẩu nhờ việc thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá của chính các DN này.

2.1. Tác Động Lan Tỏa Tích Cực Của FDI Đến Doanh Nghiệp Nội Địa

Sự có mặt của các DN FDI đã có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Đây là những tác động lan toả tích cực của FDI tới nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên, không phải lúc nào các tác động lan toả tích cực đó cũng diễn ra hoặc được phát huy một cách tối đa như kỳ vọng.

2.2. Tác Động Tiêu Cực Của FDI Đến Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

Tác động tích cực nhiều song tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu cũng không ít. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác tối đa những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Muốn vậy, phải có những phân tích, đánh giá khách quan và xác thực về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu, chỉ ra được những tác động tích cực cũng như những tác động tiêu cực, nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực và cản trở việc phát huy tối đa tác động tích cực, từ đó có quan điểm, giải pháp phù hợp, trúng và hiệu quả trong việc tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

III. Phân Tích Thực Trạng Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại VN

Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể bao gồm: Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

3.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Tác Động Của FDI

Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau: Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến tác động của FDI tới xuất nhập khẩu. Xây dựng khung phân tích lý thuyết về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Phân tích thực trạng FDIxuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch, cơ cấu và thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

3.2. Phạm Vi Nghiên Cứu Về FDI Và Xuất Nhập Khẩu

Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm: Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam, bao gồm tác động tới kim ngạch, cơ cấu và thị trường xuất nhập khẩu. Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu trên phạm vi cả nước Việt Nam. Về thời gian: Luận án sử dụng số liệu thống kê từ năm 1988 đến năm 2018. Về đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước có hoạt động xuất nhập khẩu.

IV. Giải Pháp Nào Để Tối Ưu Hóa Tác Động Của FDI

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp thống kê mô tả. Phương pháp so sánh. Phương pháp phân tích định lượng. Phương pháp chuyên gia. Luận án sử dụng các nguồn dữ liệu sau: Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và các tổ chức quốc tế khác. Dữ liệu sơ cấp: Kết quả khảo sát các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước có hoạt động xuất nhập khẩu.

4.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Về Tác Động Của FDI

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp thống kê mô tả. Phương pháp so sánh. Phương pháp phân tích định lượng. Phương pháp chuyên gia. Luận án sử dụng các nguồn dữ liệu sau: Dữ liệu thứ cấp: Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và các tổ chức quốc tế khác. Dữ liệu sơ cấp: Kết quả khảo sát các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước có hoạt động xuất nhập khẩu.

4.2. Đóng Góp Mới Của Nghiên Cứu Về FDI Và Xuất Nhập Khẩu

Luận án có những đóng góp mới sau: Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Phân tích và đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống thực trạng tác động của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Đề xuất quan điểm và giải pháp có tính khả thi cao để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

V. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Quản Lý FDI Và Bài Học Cho VN

Luận án được kết cấu gồm phần mở đầu, 4 chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

5.1. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Tác Động Của FDI

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương này sẽ trình bày các nghiên cứu nước ngoài và trong nước về tác động của FDI tới kim ngạch, cơ cấu và thị trường xuất nhập khẩu. Đồng thời, chương này cũng sẽ chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và lý do tác giả lựa chọn đề tài.

5.2. Cơ Sở Lý Luận Về Tác Động Của FDI Đến Thương Mại

Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư. Chương này sẽ trình bày cơ sở lý luận về FDI, xuất nhập khẩu và kênh truyền dẫn tác động của FDI tới xuất nhập khẩu. Đồng thời, chương này cũng sẽ trình bày kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

VI. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả FDI Tại Việt Nam

Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Chương này sẽ trình bày thực trạng FDIxuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Đồng thời, chương này cũng sẽ đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch, cơ cấu và thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018.

6.1. Phân Tích Thực Trạng FDI Và Xuất Nhập Khẩu Giai Đoạn 1988 2018

Chương 3: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Chương này sẽ trình bày thực trạng FDIxuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018. Đồng thời, chương này cũng sẽ đánh giá tác động của FDI tới kim ngạch, cơ cấu và thị trường xuất nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 1988-2018.

6.2. Giải Pháp Tăng Cường Tác Động Tích Cực Của FDI

Chương 4: Quan điểm, giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Chương này sẽ trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước về dòng vốn FDI. Đồng thời, chương này cũng sẽ đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Tác động của FDI tới kim ngạch xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư Tác động của FDI tới kim ngạch xuất khẩu Các nhà nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đã làm rõ tác động của FDI tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư bằng những nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều quốc gia khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng FDI có tác động tới xuất khẩu ở nước nhận đầu tư thông qua kênh tác động tực tiếp và hàng loạt các kênh truyền dẫn tác động như kênh tạo áp lực cạnh tranh, kênh chuyển giao công nghệ, kênh di chuyển lao động và chuyển giao tri thức, kênh liên kết giữa DN FDI và DN nội địa… Thông qua đó, xuất khẩu hàng hoá của nước nhận đầu tư gia tăng do: (i) xuất khẩu của chính các DN FDI hoạt động tại nước nhận đầu tư; (ii) khả năng xuất khẩu của các DN nội địa tăng nhờ những tác tác động lan toả tích cực từ FDI (Aitken & Hansen & Harrison, 1997; Blomstrom & Kokko, 2003; Bwalya, 2006; Gorg & Greenaway, 2004; Greenaway & Kneller, 2004; Günther Jutta, 2002; Kneller & Pisu, 2007; Nakamura, 2002; Sun, 2009; Wagner, 2007; Wang & Blomstrom, 1992).

DN FDI với lợi thế về vốn, công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, bí quyết quản lý đã tạo sức ép đáng kể buộc các buộc các DN xuất khẩu nội địa phải thay đổi cách thức quản lý, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Dưới sự gia tăng cạnh tranh và phải chống đỡ cạnh tranh, các DN xuất khẩu nội địa buộc phải hoạt động hiệu quả hơn, phải cải tiến, áp dụng công nghệ mới sớm hơn, do đó, năng lực và giá trị xuất khẩu của các DN trong nước gia tăng, cộng hưởng làm tăng giá trị xuất khẩu của nước nhận đầu tư (Blomstrom & Kokko, 1998; Kokko & Tansini & Zejan, 1996; Kokko & cộng sự, 2001; Wang & Blomstrom, 1992). Nghiên cứu bởi Aitken & cộng sự (1997) tại Mexico trong giai đoạn 1986-1990 đã tìm ra tác động tích cực của MNCs tới khả năng của các DN nội địa khi tham gia vào thị trường xuất khẩu. Tương tự, Greenaway & cộng sự (2004) phân tích trường hợp nước Anh trong giai đoạn 1992-1996 và quan sát thấy tác động tích cực của các MNCs trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng khả năng xuất khẩu của DN nội địa.

Kết quả khẳng định rằng các DN nội địa được học hỏi bởi hoạt động R&D của MNCs và quá trình hoạt động của các MNCs làm gia tăng năng lực cạnh tranh và bắt buộc các DN nội địa phải tăng năng suất lao động để tồn tại. Kết quả là các DN nội địa nâng cao năng lực sản xuất, tăng quy mô và giá trị xuất khẩu. Trong một nghiên cứu 10 thực chứng ở nước Anh giai đoạn 1998-2002, Greenaway & Kneller (2008) đã chỉ ra rằng sự có mặt của các DN FDI tại Anh đã làm xuất hiện thêm các DN xuất khẩu mới tại nước này, tạo thêm nhiều áp lực cạnh tranh và có tác động tích cực tới xuất khẩu của nước Anh. DN FDI còn mang đến công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến… mà các DN trong nước có thể tiếp nhận thông qua kênh CGCN.

Việc liên kết sản xuất và kinh doanh giữa các DN trong nước với các DN FDI góp phần làm gia tăng xuất khẩu của các DN này do học hỏi được trong quá trình liên kết với các DN FDI. Đồng thời, lao động tại các DN này cũng được đào tạo các kỹ năng để có thể sản xuất và xuất khẩu hàng hoá đạt tiêu chuẩn của các DN FDI (CIEM, 2011). Kokko (1994) khẳng định khả năng hấp thụ cộng nghệ và trình độ công nghệ của các DN nội địa là các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất hiện các tác động tràn tích cực của FDI tới xuất khẩu của các DN nội địa. Hamida (2011) cũng khẳng định điều này và làm rõ hơn bằng các nghiên cứu thực chứng trong các ngành khác nhau.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong ngành chế biến chế tạo các DN trong nước với trình độ công nghệ cao thu được nhiều lợi ích từ tác động lan toả của FDI nhờ sự gia tăng cạnh tranh hơn so với các DN trong nước với trình độ công nghệ trung bình và thấp. Kaufmann (1997), Fosfuri & cộng sự (2001) và Glass & Saggi (2002) cũng đã chỉ ra rằng các DN trong nước có thể tiếp cận và nhận chuyển giao tri thức từ các DN FDI do có sự di chuyển lao động từ khu vực FDI sang khu vực kinh tế trong nước. Tác động này xuất hiện khi những lao động được đào tạo để làm việc trong các DN FDI chuyển tới làm việc cho các DN nội địa hoặc tự thành lập DN mới. Những lao động này sẽ áp dụng những kiến thức và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá xuất khẩu đã học hỏi được ở các DN FDI vào việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu tại các DN trong nước, từ đó nâng cao cơ hội và khả năng xuất khẩu hàng hoá cho các DN này (Hamida & Gugler, 2009; Todo & cộng sự, 2009).

FDI thường được phân loại theo hình thức đầu tư, gồm có FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang (Fukao & Amano, 1998). Trong FDI theo chiều dọc, động lực để tiến hành FDI là nhằm tìm kiếm nguồn cung nguyên vật liệu đầu vào cần thiết cho các quy trình sản xuất hàng hoá cuối cùng của các nhà đầu tư. Ngược lại, hình thức FDI theo chiều ngang là việc tiến hành xây dựng các nhà máy, sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ tương tự ở nước đi đầu tư tại nước nhận đầu tư. Clare (1996) chỉ ra rằng dòng vốn FDI có thể tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu của các DN nội địa trong các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên liệu thô (upstream industry) và nguyên liệu đã qua chế biến (downstream industry) thuộc cùng một chuỗi giá trị (cả thượng nguồn và hạ nguồn) thông qua các liên kết dọc.

Trong khi đó, Kokko & cộng sự (2001) và Alvarez & Lopez (2008) lại chỉ ra tác động tích cực của FDI tới xuất 11 khẩu của các DN trong nước thông qua các mối liên kết ngang, đồng thời khẳng định FDI có tác động tích cực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các DN trong nước hoạt động trong cùng một lĩnh vực. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu chứng minh FDI không có tác động hoặc tác động tiêu cực tới xuất khẩu của nước nhận đầu tư như nghiên cứu của Barrios & cộng sự (2003) cho trường hợp của Tây Ban Nha, nghiên cứu của Aitken & Harrison (1999) cho trường hợp của Venezuela, nghiên cứu của Djankov & Hoekman (2000) cho trường hợp của Cộng hoà Séc, nghiên cứu của Bernard & Jensen (2004) cho trường hợp của Mỹ. Nghiên cứu về tác động tràn của FDI tới hoạt động xuất khẩu của Tây Ban Nha giai đoạn 1990-1998, Barrios & cộng sự (2003) đã không tìm được bằng chứng để chứng minh rằng FDI có tác động lan toả tích cực tới hoạt động xuất khẩu của các DN nội địa Tây Ban Nha trong giai đoạn này. Bernard & Jensen (2004) cũng chỉ ra rằng FDI không có tác động lan toả tới xuất khẩu của các DN trong ngành chế tạo của Mỹ.

Đây cũng là kết luận của một số nghiên cứu khác của Lutz &cộng sự (2003) và Greenaway & cộng sự (2004). Như vậy, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của “tác động tràn xuất khẩu” cho nhiều kết quả khác nhau và chưa có sự đồng nhất. Các tác động này phụ thuộc rất nhiều vào loại hình FDI và sự khác biệt về chiến lược kinh doanh giữa DN nội địa và MNCs (Kneller & Pisu, 2007). Mặt khác, các nghiên cứu về tác động tràn của FDI tập trung chủ yếu vào phân tích trong phạm vi một quốc gia, thường là quốc gia thu hút chỉ một loại FDI nhất định với nhiều tác động tràn tiềm năng khác nhau.

Vì lí do này, phân tích sự ảnh hưởng của tác động tràn thường đứng dưới góc nhìn chưa bao quát và còn thiếu tính áp dụng rộng rãi cho các quốc gia khác (Javorcik & Spatareanu, 2008). Tác động của FDI tới kim ngạch nhập khẩu Nhìn chung, sự tác động của FDI tới nhập khẩu ở nước nhận đầu tư không nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như đối với xuất khẩu. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ở giai đoạn đầu khi tiến hành đầu tư (trong ngắn hạn), FDI làm tăng nhập khẩu, ngược lại trong dài hạn, FDI có thể làm giảm nhập khẩu của nước nhận đầu tư. Nghiên cứu của Penelope Pacheco (2005) đã chỉ ra rằng ngay sau khi các MNCs được thành lập ở nước sở tại, họ sẽ nhập một số loại đầu vào nhất định (thường là những linh kiện cơ bản và hàng hoá trung gian được sản xuất tại trụ sở chính ở nước đầu tư) để đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của thị trường quốc tế.

Do đó, dòng vốn FDI làm tăng nhu cầu nhập khẩu. Chani & cộng sự (2014) cũng khẳng định FDI có thể làm tăng nhập khẩu đầu vào sản xuất vì phần lớn đầu vào sản xuất của các ngành công nghiệp dịch vụ đều liên quan đến công nghệ cao mà các nước nhận đầu tư chưa sản xuất được, phải phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu. Do đó, dòng FDI từ những nước cung cấp đầu vào cho nước nhận đầu tư thường hấp dẫn và được tập trung thu hút hơn. 12 Theo Yasir Khan & cộng sự (2018), tồn tại mối quan hệ dương giữa FDI và nhập khẩu ở nước nhận đầu tư trong ngắn hạn.

Nghĩa là, trong ngắn hạn FDI sẽ làm tăng nhập khẩu ở nước nhận đầu tư và ngược lại. Jayakumar & cộng sự (2014) cũng cho rằng, ở giai đoạn đầu tư ban đầu, các DN FDI có xu hướng nhập khẩu thiết bị, máy móc, thiết bị lắp đặt và các chuyên gia không có sẵn hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn của các DN FDI ở nước sở tại. Điều này làm cho nhập khẩu ở nước sở tại tăng. Các nghiên cứu của Tabassum & cộng sự (2012), Muhammad & cộng sự (2014) cũng đã chỉ ra FDI làm tăng nhập khẩu từ bên ngoài vào nước nhận đầu tư.

Xét về hình thức, FDI thường được chia thành FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang (Fukao & Amano, 1998). Theo Franco & cộng sự (2010), tác động của FDI tới nhập khẩu ở nước nhận đầu tư, theo cách tiếp cận này, phụ thuộc rất nhiều vào hình thức đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Đến Xuất Nhập Khẩu Tại Việt Nam" phân tích sâu sắc ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng FDI không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa. Bên cạnh đó, tài liệu cũng nêu bật những lợi ích mà FDI mang lại, như việc tạo ra việc làm, chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Chuyên đề thực tập tốt nghiệp tác động của fdi đến hoạt động xuất khẩu của việt nam, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về mối liên hệ giữa FDI và xuất khẩu. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ kinh tế tác động lan tỏa từ fdi tới xuất khẩu của ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của FDI trong ngành chế biến chế tạo. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tốt nghiệp tác động của fdi đến vị trí của việt nam trong chuỗi giá trị toàn cầu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu nhờ vào FDI. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam.