phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục kèm theo thì nội dung chính của luận văn dự kiến gồm 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu. Trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu tổng quát, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết. Nêu ra và phân tích những lý thuyết liên quan tới năng lực khởi nghiệp.
Trình bày các kết quả thực nghiệm từ các tài liệu nghiên cứu trƣớc có liên quan.Trên cơ sở đó, phát triển mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Trình bày các bƣớc của quy trình nghiên cứu, phƣơng pháp thu thập dữ liệu. Nghiên cứu đƣợc thực hiện bằng hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lƣợng.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 và AMOS 20 để xử lý dữ liệu thu thập. Phân tích độ tin cậy, đánh giá thang đo, phân tích khám phá để kiểm định thang đo và sàng lọc các biến quan sát, phân tích khẳng định và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính. Trình bày kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. Kết luận đánh giá các kết quả tìm đƣợc trong nghiên cứu, đã đáp ứng đƣợc mục tiêu nghiên cứu hay chƣa, có trả lời câu hỏi nghiên cứu chƣa, so sánh với kết quả của những nghiên cứu trƣớc và đƣa ra một số kiến nghị, đóng góp chính của nghiên cứu, hạn chế và hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 11 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày các lý thuyết để làm rõ các khái niệm nghiên cứu, cũng như các nghiên cứu trước có liên quan mà luận văn của tác giả sẽ kế thừa một số ý tưởng, từ đó đưa ra mô hình và các thang đo đề xuất, làm tiền đề cho bước nghiên cứu định tính và định lượng tiếp theo. Thuyết nguồn lực của doanh nghiệp (Resource based view theory) Thuyết nguồn lực doanh nghiệp của Barney (2001) liên tục phát triển đặc biệt là nó đƣợc mở rộng trong thị trƣờng động và hình thành nên thuyết năng lực động (Teece, Pisano &Shuen, 1997).
Theo Eisenhardt và Martin (2000), nguồn lực có thể trở thành năng lực động và tạo ra lợi thế cạnh tranh là những nguồn lực thỏa mãn bốn đặc điểm đó là có giá trị, hiếm, khó thay thế, và khó bị bắt chƣớc, gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Nonsubstitutable). Nguồn lực doanh nghiệp có thể ở dạng hữu hình (công nghệ về sản xuất và sản phẩm) hoặc vô hình (tri thức, nghệ thuật lãnh đạo,…). Nguồn lực vô hình thƣờng khó phát hiện và đánh giá nhƣng chúng thƣờng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và thỏa mãn điều kiện VRIN nên chúng là năng lực động của doanh nghiệp. Theo Obrecht (2004), năng lực khởi nghiệp là khái niệm đƣợc định nghĩa về mặt cá nhân, tổ chức lẫn xã hội.
Khái niệm này áp dụng tiêu biểu cho doanh nghiệp nhỏ và và công ty mới, ở đó các đặc điểm cá nhân của doanh nhân có thể đƣợc tìm thấy và kết nối với hoạt động của doanh nghiệp. Quan điểm của Lazear (2003) và Stam (2003) thể hiện rằng trong giai đoạn đầu của quá trình khởi nghiệp, hoạt động của công ty liên quan mật thiết đến hoạt động của doanh nhân công ty là doanh nhân. Năng lực khởi nghiệp lúc này tập trung vào quyền lực của doanh nhân để thực hiện công việc. Những phẩm chất hữu ích cho doanh nhân, còn đƣợc gọi là năng lực khởi nghiệp là những gì mỗi cá nhân cần suốt quá trình học hỏi cũng nhƣ cả cuộc đời họ, bất kể họ là một nhân 12 viên hay một doanh nhân độc lập.
Nhƣ vậy, năng lực khởi nghiệp cũng đƣợc xem là một nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp. Thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities Theory) Một số học giả đã đề xuất xem năng lực khởi nghiệp nhƣ một loại năng lực động. Đó là một năng lực của công ty khi thực hiện một nhiệm vụ hoặc hoạt động trong việc theo đuổi sứ mệnh của công ty đó. “Thuyết năng lực động” đƣợc giới thiệu bởi Teece và Pisano và Shuen (1997) đã bổ sung và mở rộng hơn thuyết nguồn nhân lực.
Năng lực động đƣợc định nghĩa là khả năng của công ty để tích hợp, xây dựng và cấu hình lại năng lực nội bộ và bên ngoài để thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của môi trƣờng. Vì vậy trong khi thuyết nguồn lực của doanh nghiệp liên quan đến sự lựa chọn nguồn tài nguyên độc đáo có khả năng tìm kiếm lợi thế cạnh tranh thì năng lực động nhấn mạnh phát triển nguồn lực và đổi mới nhƣ một quá trình toàn diện gồm cả môi trƣờng kinh doanh tổng thể. Điều thú vị của quan điểm này là nó đạt đƣợc và duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh thay đổi môi trƣờng đã đƣợc hỗ trợ bởi các năng lực hơn cả năng lực của công ty. Mặc dù khuôn khổ của năng lực động là ở cấp độ công ty, khái niệm của năng lực đƣợc xem là có liên quan đến khái niệm năng lực khởi nghiệp.
Cũng tiếp cận ở cấp độ công ty nhƣ năng lực động, các khái niệm về năng lực khởi nghiệp đƣa ra các quan điểm phát triển nguồn lực để giải thích cách tạo ra giá trị ở cấp độ doanh nhân. Năng lực động là cần thiết để đáp ứng những thách thức mới, tổ chức và nhân viên của họ cần khả năng học hỏi nhanh để xây dựng tài sản chiến lƣợc. Theo đó, tài sản chiến lƣợc mới nhƣ khả năng, công nghệ và phản hồi của khách hàng phải đƣợc tích hợp trong công ty, tài sản chiến lƣợc phải đƣợc chuyển đổi hoặc tái định hình. Trong đó, theo tác giả học tập đƣợc xem là một tài sản quan trọng, học tập là một quá trình mà sự lặp lại và thử nghiệm cho phép nhiệm vụ đƣợc thực hiện tốt hơn và nhanh hơn.
Đầu tiên, học tập liên quan đến việc tổ chức cũng nhƣ các kỹ năng cá nhân, trong khi kỹ năng cá nhân là sự liên quan, phụ thuộc vào việc làm của họ trong tổ chức. 13 Quá trình học tập về bản chất xã hội và tập thể xảy ra không chỉ thông qua sự bắt chƣớc và thi đua của cá nhân, nhƣ với giáo viên-sinh viên hoặc chủ-thợ mà còn vì những đóng góp vào sự hiểu biết về các vấn đề phức tạp. Học tập đòi hỏi sự truyền thông và sự phối hợp tìm kiếm tri thức giữa cá nhân và tổ chức. Thứ hai, kiến thức chung của tổ chức đƣợc tạo ra bởi các hoạt động mới, thói quen, hoặc một logic mới của tổ chức.
Các nhà nghiên cứu Doz và Shuen (1990) đã chỉ ra rằng sự hợp tác và quan hệ đối tác có thể là một phƣơng tiện để tổ chức học tập mới, giúp công ty để nhận ra thói quen khác thƣờng, và ngăn ngừa những chiến lƣợc sai lầm. Teece, Pisano và Shuen (1997) cũng giải thích rằng các tổ chức phát triển năng lực cụ thể để công ty đáp ứng với những thay đổi trong môi trƣờng kinh doanh và mục đích là mang đến hiệu quả ở quá trình kinh doanh của công ty, vị trí trên thị trƣờng, và cơ hội kinh doanh. Từ lý thuyết nền tác giả rút ra rằng, năng lực khởi nghiệp đƣợc xem nhƣ một loại năng lực động và là một nguồn lực của doanh nghiệp. Phát triển năng lực khởi nghiệp giúp nâng cao năng lực doanh nghiệp, cụ thể trong giai đoạn đầu của hoạt động kinh doanh.
Trong giai đoạn này, năng lực khởi nghiệp gắn với năng lực của doanh nhân. Vì vậy nghiên cứu về tinh thần của doanh nhân gắn với năng lực khởi nghiệp là cần thiết. Khởi nghiệp Theo từ điển Merriam-Webster, khởi nghiệp đƣợc dùng trong tiếng Anh để chỉ những ngƣời kinh doanh từ giữa thế kỷ 18. Đến đầu thế kỷ 20, khởi nghiệp đƣợc dùng với nghĩa rộng hơn để chỉ những chủ doanh nghiệp độc lập dám nghĩ dám làm.
Ngày nay, khởi nghiệp đƣợc định nghĩa là ngƣời khởi sự doanh nghiệp và sẵn sàng chấp nhận rủi ro, mất mát để kiếm tiền, họ là những ngƣời có tầm nhìn và ƣa cải tiến. Sự khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó phát triển ý tƣởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập doanh nghiệp mới. Năng lực khởi nghiệp Khái niệm năng lực khởi nghiệp đƣợc nghiên cứu từ nhiều năm nay với nhiều định nghĩa khác nhau, khái niệm này đƣợc phát triển bởi sự cụ thể và quy trình nhận dạng của Teece, Pisano và Shuen (1997). Zahra (2011) định nghĩa năng lực khởi nghiệp là sự cảm nhận, lực chọn, định hình và đồng bộ hóa các điều kiện bên trong và bên ngoài tổ chức để thăm dò và khám phá các cơ hội.
O‟Reilly và Tushman (2008) xem năng lực khởi nghiệp tƣơng tự sự thuận hai tay của năng lực động dựa trên yếu tố khai thác và khám phá. Zahra và George (2002) chỉ ra rằng cũng nhƣ các năng lực động khác, năng lực khởi nghiệp tập trung dự đoán và nhận biết sự thay đổi sắp xảy ra của tổ chức. Theo quan điểm của Bingham, Eisenhardt, và Furr (2007), năng lực khởi nghiệp cho phép một công ty chuyển dạng thông qua cảm nhận và định hình các cơ hội cũng nhƣ cung cấp những phỏng đoán đặc biệt để đánh giá, lựa chọn và khám phá chúng. Theo Bascavusoglu-Moreau (2010); Foltz và Gajigo (2010); Lennon (2010) và Zahra (2011) (đƣợc trích dẫn bởi Mashenene, Macha & Donge, 2014), các chỉ số của năng lực khởi nghiệp bao gồm lôi cuốn khách hàng, mở rộng thị trƣờng, nhận biết cơ hội, thiết lập mục tiêu, sử dụng thông tin phản hồi, chấp nhận rủi ro, lãnh đạo thị trƣờng, hiệu quả chi phí, lợi nhuận, tuổi của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, công nghệ, nghiên cứu và phát triển, tạo ra và tăng doanh thu, tăng vốn sở hữu, cải tiến sản phẩm, tiết kiệm, tái đầu tƣ thu nhập và phần thƣởng nội tại.Golden và Powell (2000) miêu tả năng lực khởi nghiệp là sự linh hoạt trƣớc thay đổi.
Ravichandran và Lertwongsatein (2005) khẳng định sự linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và công ty sử dụng công nghệ một cách nhanh chóng và hiệu quả để tiếp tục duy trì các hoạt động kinh doanh hiện tại. Thêm vào đó, Harreld, O'Reilly, và Tushman (2007) nhấn mạnh chiến lƣợc linh hoạt là một loại năng lực khởi nghiệp sôi động giúp cá nhân hoặc công ty nhận dạng và nắm lấy cơ hội. Trong các tổ chức mới thành lập, một trong những mấu chốt của năng lực khởi nghiệp cá nhân là tính chủ động.