Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Tổng quan về quản trị vốn luân chuyển và các nghiên cứu trước đây có liên quan. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY CÓ LIÊN QUAN Chương này trình bày tổng quan lý thuyết, các nghiên cứu trước đây về quản trị vốn luân chuyển và xây dựng các giả thiết. Nội dung chính của phần lý thuyết bàn luận về chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được dùng làm thước đo trong việc quản trị vốn luân chuyển mà tác giả sử dụng trong toàn bài luận văn cũng như các thành phần của nó là số ngày trung bình khoản phải thu (AR), số ngày trung bình hàng tồn kho (INV) và số ngày trung bình khoản phải trả (AP). Trên cơ sở lý thuyết, tác giả tiếp tục trình bày một số kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Cuối cùng, chương này sẽ bàn về những đặc tính công ty, ảnh hưởng của chúng đến việc quản trị vốn luân chuyển dựa vào các nghiên cứu trước đây và từ đó phát triển thành các giả thiết sẽ được kiểm định trong nội dung chương 4. Tổng quan về quản trị vốn luân chuyển 2. Quản trị vốn luân chuyển 2. Các khái niệm Khái niệm quản trị vốn luân chuyển được biết đến nhiều hơn vì ngày càng nhiều các nhà quản trị bắt đầu nhận thấy những lợi ích từ việc quản trị tốt vốn luân chuyển.
Trước tiên, cần nói về vốn luân chuyển. Maness và Zietlow định nghĩa vốn luân chuyển như sau: “Đó là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn” (Maness và Zietlow, 2005). Sau khi tìm hiểu các nguồn tài liệu khác nhau về vốn luân chuyển, thì định nghĩa từ Maness và Zietlow được xem là tổng quát và được sử dụng phổ biến. Đây cũng là định nghĩa mà tác giả sẽ sử dụng khi đề cập đến vốn luân chuyển trong bài luận văn này.
Tiếp theo là khái niệm quản trị vốn luân chuyển, Jeng-Ren và cộng sự cho rằng: “Đây là việc quản trị nguồn vốn trong ngắn hạn của các công ty” (Jeng-Ren và cộng sự, 2006). Nguồn vốn ngắn hạn ở đây đề cập đến là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Theo đó, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Jeng-Ren và cộng sự về quản trị vốn luân chuyển trong bài luận văn này. Quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển liên quan đến việc các công ty quản trị nguồn vốn ngắn hạn của họ.
Nguồn vốn ngắn hạn liên quan đến vốn mà những công ty sử dụng trong hoạt động hàng ngày và nguồn vốn này thể hiện qua tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của những công ty đó. Quản lý tốt vốn luân chuyển sẽ thúc đẩy công ty gia tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt, khả năng sinh lợi và giá trị của các cổ đông (Jeng-Ren và cộng sự, 2006). Tài sản ngắn hạn bao gồm vốn dưới dạng tiền mặt, những khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho, các khoản phải thu và những tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn có thể được định nghĩa là những tài sản sử dụng trong hoạt động hàng ngày của công ty nhằm mang lại cho công ty lượng tiền mặt trong khoảng thời gian không quá một năm.
Nợ ngắn hạn gồm có những khoản vay ngắn hạn, những khoản nợ phải trả nhà cung cấp, các khoản thuế phải nộp nhà nước và những khoản nợ ngắn hạn khác (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007). Nợ ngắn hạn giúp công ty huy động vốn từ bên ngoài và nó đặc biệt quan trọng đối với các công ty nhỏ thường gặp khó khăn trong việc vay mượn dài hạn (Rimo và Panbunyuen, 2010). Quản trị vốn luân chuyển nhằm mục đích tạo dòng vốn hiệu quả cho các hoạt động liên quan đến tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. minh họa chi tiết về chu kỳ vốn luân chuyển và những mũi tên trong hình giải thích về hướng đi của dòng tiền trong công ty (Pass và Pike, 2007).
Hình bên dưới cho thấy, nhu cầu vốn luân chuyển bao gồm vốn huy động từ cổ đông và trái chủ. Công ty sử dụng nguồn vốn này dưới dạng tiền mặt để đầu tư vào nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất của mình. Nếu những nhà cung cấp đưa ra chính sách tín dụng, thì nguồn nguyên vật liệu đã mua được tài trợ ban đầu bởi nhà cung cấp cho đến khi công ty thanh toán. Những khoản tín dụng từ ngân hàng và nhà nước cũng có thể giúp công ty đáp ứng những khoản chi phí điều hành như chi phí nhân công và chi phí sản xuất chung (Pass và Pike, 2007).
5 Chi phí Chi phí nhân công sản xuất chung Tín dụng từ Nguyên vật Nhà liệu cung cấp Ngân hàng và Thành phẩm Nhân công Nhà nước Cổ đông Tiền Người mắc nợ mặt Nhu cầu vốn luân chuyển Cổ đông Trái chủ Hình 2. Chu kỳ vốn luân chuyển. Nguồn: Pass và Pike (2007). Khi nguồn nguyên vật liệu đã mua được đưa vào quá trình sản xuất và tạo ra thành phẩm, mất một khoảng thời gian để những sản phẩm này được tiêu thụ và thu tiền.
Lượng tiền mặt có được từ việc bán hàng được sử dụng để trả nợ, tài trợ cho các khoản đầu tư mới và chi trả cổ tức cho cổ đông. Từ đây, một chu kỳ mới lại tiếp tục (Pass và Pike, 2007). Vốn luân chuyển dương và âm Chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn hình thành nên vốn luân chuyển và chỉ tiêu này phản ánh việc những công ty mạnh có thể hoàn thành những cam kết trong ngắn hạn. Thật đáng khen cho các công ty nếu họ luôn kịp thời ứng phó được những tình huống 6 tài chính cấp bách cả trong điều kiện thuận lợi và thậm chí là điều kiện xấu mà trước đây họ chưa có kinh nghiệm về kiệt quệ tài chính (Maness và Zietlow, 2005).
Những công ty với vốn luân chuyển dương nghĩa là có tài sản ngắn hạn nhiều hơn nợ ngắn hạn và có thể sử dụng phần thặng dư từ tài sản ngắn hạn để hoàn thành những cam kết về tài chính và nghĩa vụ đối với cổ đông. Phần chênh lệch dương này là một yếu tố rất quan trọng cho việc duy trì sự phát triển của bất kỳ một công ty nào (Rimo và Panbunyuen, 2010). Mặt tích cực khi có vốn luân chuyển dương đã rõ ràng, nhưng cũng có vấn đề cần xem xét và thường xảy ra khi những công ty có mức độ vốn khá cao nằm ở những tài sản ngắn hạn. Số vốn bất động này không thể giúp công ty gia tăng giá trị cũng như thực hiện những dự án đầu tư mới tiềm năng nhằm mang lại thu nhập cao hơn cho công ty (Rimo và Panbunyuen, 2010).
Ngược lại, nếu nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn, thì vốn luân chuyển sẽ âm. Điều này có nghĩa là công ty đó không đủ vốn để trang trải cho những khoản nợ ngắn hạn. Đa số các công ty sẽ rơi vào tình trạng khó khăn khi vốn luân chuyển bị âm và đây là lúc mà những công ty có tiềm lực trong tương lai vẫn có thể sẽ phá sản nếu họ không tích cực quản lý vốn luân chuyển một cách hiệu quả. Khả năng sinh lợi cao nhưng không đủ để khiến công ty thành công bởi vì quản lý tốt vốn luân chuyển cũng rất quan trọng.
Một cách để tránh tình trạng phá sản trong những tình huống ngặt nghèo này là các công ty có thể vay mượn thêm hoặc bán bớt tài sản ngắn hạn để có nguồn trang trải (Maness và Zietlow, 2005). Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đánh giá việc quản trị vốn luân chuyển, các nhà quản trị sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường, đánh giá. Một trong những chỉ tiêu được sử dụng phổ biến hiện nay là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) và đây là thước đo mà tác giả chọn sử dụng trong bài nghiên cứu này. Những nội dung tiếp theo sẽ đề cập đến những thước đo quản trị vốn luân chuyển có thể dùng bao gồm cả chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
Đánh giá quản trị vốn luân chuyển 7 Có ba khái niệm khác nhau được dùng làm thước đo để đánh giá việc quản trị vốn luân chuyển mà các công ty có thể lựa chọn dựa vào chính sách vốn luân chuyển của họ. Ba khái niệm đó là khả năng thanh toán (solvency), khả năng thanh toán bằng tiền mặt (liquidity) và khả năng linh hoạt tài chính (financial flexibility), tất cả chúng bị tác động bởi việc các công ty lựa chọn thực hiện những chính sách về vốn luân chuyển. Cụ thể như, một công ty có khả năng thanh toán sẽ có nhiều tài sản ngắn hạn hơn nợ ngắn hạn. Hai thước đo tiêu biểu về khả năng thanh toán là tỷ lệ thanh toán hiện thời và vốn luân chuyển đo lường mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn để đánh giá khả năng công ty thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Ở đây, vốn luân chuyển được định nghĩa là “chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn”, nó là thước đo mang tính tuyệt đối phản ánh các công ty thực hiện những cam kết ngắn hạn tốt như thế nào. Bởi vì đây là thước đo tuyệt đối, nên sẽ không phù hợp khi dùng nó để so sánh giữa các công ty có quy mô khác nhau. Maness và Zietlow đồng tình với nhận định của Shulman và Cox về hạn chế này của vốn luân chuyển. Đây là thước đo không hiệu quả khi kết hợp tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn với những chiến lược tài chính và hoạt động.
Shulman và Cox cho rằng việc kết hợp chiến lược tài chính và hoạt động sẽ khiến thước đo này tạo nên bức tranh không hoàn toàn đúng về khả năng thanh toán bằng tiền mặt của công ty. Để khắc phục điều này, Shulman và Cox đã tách biệt chiến lược hoạt động và chiến lược tài chính thành hai khái niệm mới, đó là khả năng thanh toán bằng tiền mặt và khả năng linh hoạt tài chính. Theo cách này, việc đo lường mang lại giá trị hợp lý hơn (Maness và Zietlow, 2005). Thước đo về khả năng thanh toán bằng tiền mặt thường là dòng tiền hoạt động, khả năng chuyển đổi tiền mặt và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
Thước đo đầu tiên, dòng tiền hoạt động là chỉ tiêu được tính toán và lấy từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ của công ty. Thước đo này hiệu quả khi so sánh nhiều năm hơn là chỉ một năm.