Chương 1: Cơ sở lý luận. Giới thiệu tổng quan những khái niệm nền tảng của đa dạng hóa xuất khẩu và cách thức đo lường sử dụng dữ liệu xuất khẩu chi tiết đến từng ngành nhỏ, trước khi phân tích tác động của đa dạng hóa xuất khẩu đến tăng trưởng thương mại song phương, đặc biệt là trong bối cảnh thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 cũng như đại dịch Covid – 19 năm 2020. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày cách thức cụ thể để kiểm định các giả thuyết chính mà nhóm đưa ra với việc làm rõ chỉ định mô hình kinh tế lượng, chọn mẫu nghiên cứu, và thu thập dữ liệu cần thiết.
Ngoài ra, phương pháp ước lượng các mô hình này sẽ được trình bày một cách chi tiết nhằm đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng. Chương 3: Kết quả và thảo luận. Chương này báo cáo những kết quả nghiên cứu dựa trên việc ước lượng các mô hình trên và giải quyết các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. Các kết quả ước lượng sau đó được thảo luận và trình bày một cách khách quan, 13 hợp lý nhằm phân tích tác động của đa dạng hoá xuất khẩu đến tăng trưởng thương mại song phương.
Chương 4: Phần kết luận. Chương này tóm tắt những kết quả chính tìm được trong quá trình nghiên cứu, trước khi đưa ra những ngụ ý chính sách hợp lý cho các nước đang phát triển với chính sách thương mại hướng đến đa dạng hóa xuất khẩu. Những hạn chế của nghiên cứu cũng được phân tích nhằm gợi ý hướng nghiên cứu sâu hơn cho những nghiên cứu tiếp theo. Đa dạng hóa xuất khẩu 1.
Khái niệm Đa dạng hóa xuất khấu được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Đó là sự chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu của một quốc gia (Al-Marhubi, 2000). Sự chuyển dịch này chính là sự thay đổi về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu và thị trường xuất khẩu, nói một cách khác đa dạng hoá xuất khẩu là sự đa dạng hoá ở phương diện sản phẩm và đa dạng hoá trong các đối tác thương mại (Ali và cộng sự, 1991). Ở một góc nhìn khác, Berthélemy and Chauvin (2000) cho rằng đa dạng hóa xuất khẩu là sự lan toả sản xuất và xuất khẩu ra nhiều lĩnh vực.
Saviotti and Frenken (2008) lại định nghĩa một cách đơn giản hơn, đa dạng hóa xuất xuất khẩu là sự đa dạng hoá đối tác xuất khẩu và đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu. Besedes và Prusa (2008) thì lại cho rằng đa dạng hoá xuất khẩu là việc xuất khẩu các sản phẩm mới đến thị trường hiện tại hay thị trường mới, hoặc là xuất khẩu các sản phẩm hiện tại đến thị trường mới. Để mô tả rõ hơn về lý thuyết đa dạng hoá xuất khẩu, nhóm đưa ra sơ đồ về đối tác xuất khẩu dựa trên nền lý thuyết đã được nêu trên: Hình 1. Quan niệm về đa dạng hoá xuất khẩu của Alberto Amurgo-Pacheco và Martha Denisse Píerola Nguồn: Alberto Amurgo-Pacheco và Martha Denisse Piérola [58] Trong đó: + Old Destinations: Đối tác đã và đang xuất khẩu 15 + New Destinations: Đối tác xuất khẩu mới + Old products: Mặt hàng đã và đang được xuất khẩu + New products: Mặt hàng mới được đưa vào xuất khẩu + Intensive margin: Lợi ích chuyên sâu nghĩa là đa dạng hoá xuất khẩu nhờ vào sự gia tăng khối lượng hoặc tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng đã được xuất khẩu trước đây với các đối tác xuất khẩu vốn đã có quan hệ giao dịch + Extensive margin: Lợi ích mở rộng nghĩa là sự đa dạng hoá xuất khẩu nhờ vào sự gia tăng thêm chủng loại các mặt hàng xuất khẩu trước đây vốn chưa được xuất khẩu hoặc tăng thêm đối tác xuất khẩu mới Từ các quan niệm về đa dạng hoá xuất khẩu, mặc dù có thể nhìn nhận từ rất nhiều góc độ nhưng mấu chốt của vấn đề chính là đa dạng hoá xuất khẩu trước hết đề cập tới một quá trình.
Thứ hai, đó là sự gia tăng cả về số lượng mặt hàng và sự biến đổi về cơ cấu rổ hàng hoá xuất khẩu. Và thứ ba, sự thay đổi đó cần phải theo hướng làm cho cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn tức là mở rộng xuất khẩu vào các lĩnh vực mới. Từ những luận điểm đó, ta hiểu đa dạng hoá xuất khẩu là quá trình trong đó các quốc gia chuyển dịch cấu trúc xuất khẩu hiện tại sang một cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Để làm rõ hơn về những luận điểm trên, nhóm đã rút ra được hai vấn đề cần triển khai: Cấu trúc xuất khẩu là gì? Và thể nào là đa dạng hơn? Để có được câu trả lời hợp lý cho hai vấn đề trên, Brenton and Newfarmer (2007) đã phân loại các dạng thức khác nhau của đa dạng hóa xuất khẩu.
Theo đó, đa dạng hóa cấu trúc xuất khẩu có thể là (i) đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa và chất lượng (xuất khẩu nhiều mặt hàng hơn với chất lượng cao hơn), (ii) đa dạng hóa ngành/lĩnh vực xuất khẩu (xuất khẩu ở nhiều ngành kinh tế hơn, hay mở rộng xuất khẩu cả về hàng hóa và dịch vụ), hoặc (iii) đa dạng hóa về đối tác thương mại (xuất khẩu đến nhiều quốc gia hơn). Như vậy, "cấu trúc xuất khẩu" của một nền kinh tế xác định các đặc trưng hiện hữu của các sản phẩm xuất khẩu hoặc địa điểm xuất khẩu. Nó được hiểu là cấu trúc theo sản phẩm/ngành (tổng xuất khẩu được cấu thành từ những sản phẩm/ngành nào, với tỷ trọng bao nhiêu) hoặc cấu trúc theo đối tác thương mại (xuất khẩu đến nước đối tác nào, với tỷ trọng bao nhiêu). Điều này thể hiện sự đa dạng/mức độ đa dạng cả về sản phẩm xuất khẩu lẫn địa điểm xuất khẩu.
Cách hiểu này kéo theo sự phân chia đa dạng hóa xuất khẩu thành hai dạng chính: đa dạng hóa xuất khẩu theo sản phẩm/ngành và đa dạng hóa xuất khẩu theo đối tác thương mại. Đa dạng hóa theo sản phẩm/ngành 16 đạt được bằng cách mở rộng rổ hàng hóa xuất khẩu hiện có. Trong khi đó, đa dạng hóa theo đối tác thương mại là sự mở rộng thị trường xuất khẩu, duy trì mối quan hệ và tìm kiếm đối tác mới hơn nhằm tạo cơ hội phát triển kinh tế (Hinlo and Arranguez, 2017). Việc xác định các đặc trưng trong cấu trúc xuất khẩu là quan trọng đối với các góc nhìn về kinh tế chính trị, thể hiện mức độ phụ thuộc vào các sản phẩm hay các thị trường của một nền kinh tế.
Cho câu hỏi thứ hai, có thể thấy định nghĩa của Brenton and Newfarmer (2007) và Hinlo and Arranguez (2017) chỉ đề cập đến "đa dạng hóa" như một sự mở rộng xuất khẩu những sản phẩm/ngành mới hay thâm nhập thị trường mới. Về các khía cạnh nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu đều không cho thấy rõ kết quả về ảnh hưởng của đa dạng hoá xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế. Mặc dù đa số các nghiên cứu chứng minh được rằng kinh tế sẽ đạt được mức tăng trưởng cao hơn khi xuất khẩu với mức độ đa dạng cao hơn. Cách định nghĩa này loại trừ khả năng cấu trúc xuất khẩu vẫn trở nên đa dạng hơn dù không có hàng hóa mới nào được xuất khẩu hay không có thị trường mới nào được khám phá.
Đó là khi tỷ trọng xuất khẩu trở nên cân bằng hơn giữa các sản phẩm/ngành hoặc giữa các nước đối tác. "Cân bằng hơn" được hiểu là ít phụ thuộc hơn vào một số ít ngành/sản phẩm hay bạn hàng xuất khẩu. Khi đó đa dạng hóa được gọi là đa dạng hóa theo chiều ngang (hay đa dạng hóa theo biên chiều sâu) là quá trình mở rộng, dịch chuyển cấu trúc sản phẩm xuất khẩu từ xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế sang các sản phẩm chế biến, có hàm lượng kỹ thuật cao có liên quan tới nhau giữa các giai đoạn của quá trình sản xuất. Ở một góc độ khác, đa dạng hóa theo chiều dọc (hay đa dạng hóa theo biên mở rộng) là sự gia tăng số lượng sản phẩm, lĩnh vực xuất khẩu của quốc gia trong một nhóm sản phẩm nhất định, xảy ra khi xuất khẩu hàng hóa mới chưa từng xuất khẩu, hoặc xuất khẩu hàng hóa đã từng xuất khẩu nhưng đến thị trường mới (Cadot & cộng sự, 2011).
Đo lường Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đã được sử dụng trong những nghiên cứu trước để đo lường đa dạng hóa xuất khẩu, trong đó có hai phương pháp chính thường được sử dụng. Phương pháp đầu tiên sử dụng các chỉ số đo lường mức độ chuyên môn hóa như chỉ số Herfindahl, Theil và Gini. Các chỉ số trên đều được xây dựng theo nguyên tắc đo lường mức độ chuyên môn hóa, thay vì đa dạng hóa xuất khẩu. Phương pháp thứ hai phân tích đa dạng hóa xuất khẩu thông qua khái niệm về biên mở rộng và biên chiều sâu (extensive and intensive margins) xuất phát từ nghiên cứu của Hummels and Klenow (2005).
Trong đó, biên mở rộng phản ánh những thay 17 đổi trong số lượng sản phẩm hàng hóa mới và đối tác thương mại mới, còn biên chiều sâu phản ánh sự thay đổi trong kim ngạch thương mại trong các sản phẩm và đối tác hiện tại. Trong phạm vi hạn chế của đề tài, nhóm sử dụng các chỉ số đo lường mức độ chuyên môn hóa xây dựng bởi Cadot & cộng sự (2011) bao gồm chỉ số Herfindahl và chỉ số entropy-Theil. Chỉ số Herfindahl Chỉ số Herfindahl (HHI) được tính với công thức sau: 𝑛 𝑥𝑘 2 𝐻𝐻𝐼 = ∑ ( ) (1.1) 𝑋 𝑘=1 Trong đó HHI là chỉ số Herfindahl đo lường mức độ tập trung xuất khẩu theo sản phẩm/ngành. 𝑥𝑘 là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm/ngành k, X là tổng xuất khẩu trong năm, n thể hiện tất cả các sản phẩm/ngành theo cách phân loại sản phẩm/ngành thương mại nào đó.
Giá trị của chỉ số Herfindahl nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Chỉ số Herfindahl càng cao thì mức độ tập trung xuất khẩu càng cao, hay mức độ đa dạng hóa càng thấp. Trong thực tế rất hiếm khi xảy ra trường hợp HHI = 1. Xây dựng một cách tương tự, chỉ số HHI theo đối tác thương mại được đo lường theo công thức sau: 𝑚 𝑥ℎ 2 𝐻𝐻𝐼𝑚𝑎𝑟𝑘𝑒𝑡 = ∑ ( ) (1.2) 𝑋 ℎ=1 Trong đó 𝐻𝐻𝐼𝑚𝑎𝑟𝑘𝑒𝑡 là chỉ số Herfindahl đo lường mức độ tập trung xuất khẩu theo đối tác thương mại, 𝑥ℎ là kim ngạch xuất khẩu từ quốc gia đang được xem xét đến quốc gia h, X là tổng xuất khẩu trong năm, m thể hiện tất cả các đối tác thương mại trong năm đó.