đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 2: cơ sở lý thuyết, chƣơng này bao gồm các nội dung chính nhƣ cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa, cơ sở lý thuyết về rủi ro ngân hàng, trình bày sơ lƣợc về các nghiên cứu trƣớc về đa dạng hóa trong ngành ngân hàng, tác giả cũng so sánh điểm khác của đề tài với các nghiên cứu khác. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu, trình bày các nội dung chi tiết về phƣơng pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. 6 Chƣơng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, trình bày thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp, kết quả hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị, trình bày kết luận thu đƣợc từ kết quả nghiên cứu, đƣa ra các hạn chế của mô hình và kiến nghị hƣớng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƢỚC Chƣơng 1 đã trình bày những nội dung khái quát về bài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi cần đƣợc giải đáp. Để có nền tảng giải quyết những vấn đề của đề tài, chƣơng 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa, cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động, rủi ro ngân hàng; tóm tắt sơ lƣợc về các nghiên cứu trƣớc về đa dạng hóa trong ngành ngân hàng, từ đó có cơ sở đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trƣớc: Nhằm xây dựng nền tảng cho nghiên cứu về mối quan hệ giữa đa dạng hóa, hiệu quả hoạt động và rủi ro của ngân hàng, đề tài giới thiệu lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng, rủi ro và lý thuyết về dự báo rủi ro, tổng quan về đa dạng hóa trong ngân hàng.
Lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng: Theo Rose và Hudgin (2008)…, hiệu quả hoạt động của một tổ chức tài chính đƣợc đề cập đến khi nó làm thỏa mãn nhu cầu của cổ đông, nhân viên, ngƣời gửi tiền, ngƣời đi vay và các đối tƣợng liên quan khác. Thành công của các tổ chức tài chính để đáp ứng sự mong đợi của cá nhân, tổ chức liên quan và đƣợc công bố thông qua báo cáo tài chính mà chủ yếu là các chỉ tiêu lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, tài sản, giá trị cổ phiếu. Qua đó, lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ sự phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và triển vọng phát triển trong tƣơng lai của ngân hàng đó.
Cũng theo Rose và Hudgin (2008), đo lƣờng hiệu quả hoạt động của ngân hàng chính là đo lƣờng khả năng sinh lời của ngân hàng qua các chỉ tiêu nhƣ: lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trên cổ phiếu (EPS), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Suất sinh lợi trên tài sản (ROA) là một chỉ số về hiệu quả quản lý, nó chỉ ra sự quản lý có hiệu quả nhƣ 8 thế nào khi chuyển đổi tài sản thành thu nhập ròng. Suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) là một thƣớc đo về tỷ lệ lợi nhuận cho cổ đông, nó giống nhƣ lợi ích ròng mà cổ đông nhận đƣợc từ việc đầu tƣ vốn của mình vào tổ chức tài chính. Lý thuyết về dự báo rủi ro: Theo Nguyen Minh Kieu (2011), rủi ro là khả năng lợi nhuận thực tế khác với lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro cao nghĩa là xác suất xảy ra lợi nhuận thấp hơn kỳ vọng sẽ cao.
Ngân hàng với sản phẩm tài chính mà chủ yếu là đi vay để cho vay thì cùng với việc tăng trƣởng doanh thu còn phải kiểm soát mức độ an toàn của các khoản vay. Nếu rủi ro nợ khó đòi lớn hay thua lỗ trong các khoản mục đầu tƣ chứng khoán sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến vốn chủ sở hữu. Hoặc đơn giản hơn, ngƣời gửi tiền mất lòng tin vào uy tín của một ngân hàng và thực hiện rút tiền một cách đồng loạt, ngân hàng sẽ mất khả năng chi trả hay khả năng thanh khoản và phải đóng cửa. Đây chính là rủi ro phá sản của ngân hàng.
Khi vốn hiện có không đủ chi trả cho những thua lỗ hay nghĩa vụ trả nợ, rủi ro phá sản xảy ra. Để dự báo rủi ro, Altman (1968) đã xây dựng mô hình Z_score để nghiên cứu thực nghiệm trên 66 doanh nghiệp sản xuất. Qua nhiều lần phát triển, mô hình đƣợc đánh giá là hiệu quả nhất trong dự báo phá sản trong nhiều năm qua. Sau đó, chỉ số Z_score đƣợc Hannan và Hanweck (1988) phát triển để dự báo rủi ro phá sản của ngân hàng.
Z_score thể hiện mối quan hệ giữa giá trị kỳ vọng của suất sinh lợi trên tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản của một ngân hàng. Theo đó, Z_score cho biết số độ lệch chuẩn mà ở đó suất sinh lời trên tài sản nhỏ hơn giá trị kỳ vọng của nó khi vốn chủ sở hữu thâm hụt và mất khả năng thanh toán. Các nghiên cứu thực nghiệm điển hình của Stiroh (2004), Lecce (2013), Marco và Fernandez (2008) đã ứng dụng chỉ số này cho mô hình của mình trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng hóa và rủi ro ngân hàng. Vì thế, đề tài cũng ứng dụng chỉ số này cho mô hình nghiên cứu.
Tổng quan về đa dạng hóa trong ngân hàng: Theo Ansoff, I. (1957): “thuật ngữ đa dạng hóa thƣờng đƣợc gắn liền với sự thay đổi những đặc điểm dòng sản phẩm của công ty hoặc thị trƣờng, trái ngƣợc với sự thâm nhập thị trƣờng, phát triển thị trƣờng hay phát triển sản phẩm, nó đại diện cho sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm”. Đối với doanh nghiệp nói chung, đa dạng hóa là phƣơng tiện mà một công ty mở rộng kinh doanh cốt lõi của mình vào thị trƣờng sản phẩm khác. Các doanh nghiệp đa dạng hóa khi họ mong muốn kinh doanh đồng thời từ hai lĩnh vực khác nhau trở lên.
Trong ngành ngân hàng, đa dạng hóa xảy ra khi các ngân hàng mở rộng ngành kinh doanh cốt lõi của mình là thu nhập từ lãi, thu nhập truyền thống vào thị trƣờng sản phẩm dịch vụ khác. Các tài liệu về đa dạng hóa ngân hàng phân tích lợi ích và chi phí liên quan đến chiến lƣợc phát triển theo các loại hình đa dạng hóa. Đa dạng hóa có thể dẫn đến sự gia tăng hiệu suất thông qua tiết kiệm chi phí hoặc doanh thu đƣợc cải tiến do sự thuận lợi khi kết hợp các dịch vụ tài chính (Llewellyn, 1996; Teece, 1980). Hoặc, đa dạng hóa có thể làm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng giảm sút, gia tăng rủi ro tín dụng khi gặp một số vấn đề về quy mô hay sự quản lý… (De Young và Roland, 2001; Lepetit và ctg, 2008; Stiroh, 2004) Nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng hóa xuất phát từ nhiều nguồn.
Theo Lepetit và ctg, (2008), tình trạng này bắt nguồn từ sự cải cách tài chính thập niên 70, 80 ở Châu Âu, hệ thống ngân hàng phƣơng Tây phải đối mặt với những thay đổi lớn trong các hình thức cạnh tranh, tập trung và tái cơ cấu. Họ đã phản ứng với môi trƣờng mới bằng các áp dụng một chiến lƣợc mở rộng phạm vi sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Những thay đổi chủ yếu là ngày càng tăng của thu nhập ngoài lãi trong lợi nhuận. Theo các nghiên cứu tại ngân hàng nƣớc ngoài, thu nhập ngoài lãi đóng góp 41% tổng thu nhập tại thị trƣờng Châu Âu trong năm 1998 (ECB, 2000), tỷ lệ này là 43% tại Mỹ vào năm 2011 (Stiroh, 2004).
Theo Piyadasa và ctg (2015) cũng nghiên cứu từ sự bãi bỏ quy định trong ngành công nghiệp tài chính tại Úc đã khuyến khích các ngân hàng thƣơng mại đa dạng hóa 10 từ tập trung vào các quỹ cho vay truyền thống. Với một loạt các chức năng mới đƣợc tạo ra, các ngân hàng Úc đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những nƣớc có ngành ngân hàng đạt lợi nhuận cao nhất trên thế giới. Mặt khác, để đáp ứng xu hƣớng phát triển cạnh tranh do toàn cầu hóa, tự do hóa và tƣ nhân hóa, các ngân hàng thƣơng mại đã không ngừng mạo hiểm vào các lĩnh vực ngoài truyền thống. Chính sự cạnh tranh đã tạo điều kiện cho họ nhìn thấy nhiều hƣớng kinh doanh mới, mạnh dạn hơn trong việc mở rộng các hoạt động trung gian truyền thống nhƣ huy động vốn, cho vay sang các hoạt động có thu nhập ngoài lãi.
Tổng quan các nghiên cứu trƣớc: Trong những năm gần đây, sự kết hợp của các hoạt động truyền thống và phi truyền thống trong ngành ngân hàng đã gia tăng đáng kể các nghiên cứu. Hầu hết các tài liệu hiện có diễn giải cho các lợi ích đa dạng hóa tiềm năng của các ngân hàng. Bài nghiên cứu của Piyadasa và ctg (2015) khảo sát các ngân hàng ở Úc giai đoạn 2000-2012 xác định rằng mặc dù đa dạng hóa khó đảm bảo thành công, nhƣng họ đã tìm thấy một sự tin cậy cao hơn về thu nhập ngoài lãi có thể cải tiến rủi ro cho ngân hàng. Kinh nghiệm đa dạng hóa đã hỗ trợ các ngân hàng Úc trong việc đạt đƣợc tiến bộ đáng kể trong việc giữ lợi nhuận ổn định, tỷ suất rủi ro/lợi nhuận đƣợc cải thiện đáng kể.
Hơn nữa, các biện pháp bảo vệ từ chính phủ Úc cho các ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính đã khuyến khích họ tiếp tục chiến lƣợc đa dạng hoá mà không có bất kỳ tác động tiêu cực đến lợi nhuận trong giai đoạn khó khăn này. Tại Nhật Bản, Sawada (2013) phân loại thu nhập ngoài lãi thành ba thành phần: lệ phí, thu nhập kinh doanh và thu nhập ngoài lãi khác đã báo cáo rằng cả thu nhập từ phí và thu nhập kinh doanh có ảnh hƣởng tích cực đáng kể về hiệu suất ngân hàng. Trong khi đó, bài viết nghiên cứu của Leece (2013) thu thập 11 3.060 quan sát từ các ngân hàng ở Ý trong giai đoạn từ 2006 – 2011 để cho thấy sự đa dạng hóa về doanh thu và địa lý tác động tích cực đến hiệu suất hoạt động ngân hàng. Tác giả phân tích ảnh hƣởng của sự đa dạng về địa lý, chính sách lãi suất, thu nhập ngoài lãi đến hiệu suất ngân hàng.