CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết về giá trị công ty dưới góc độ quản trị tài chính Quản trị tài chính là một khâu trọng yếu trong quản trị công ty, có ý nghĩa quyết định hiệu quả trong kinh doanh (James C. Van Horne và John M. Nếu một công ty có lợi thế cạnh tranh tốt thể hiện qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ, có chiến lược kinh doanh tốt và không ngừng gia tăng doanh thu, nhưng lại không có cơ chế quản trị tài chính tốt thì cũng không thể đạt được mục tiêu cuối cùng trong kinh doanh là gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và gia tăng giá trị công ty (Ngô Kim Phượng và các cộng sự, 2016). Để đạt được mục tiêu tài chính đề ra, công ty phải giải quyết tốt các mối quan hệ với các lợi ích khác trong môi trường kinh doanh, đó là các quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành công ty, giữa lợi ích công ty và lợi ích xã hội nói chung.
Đứng trên góc độ tạo ra giá trị, tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là mục tiêu chính của công ty, mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu công ty (Ngô Kim Phượng, 2007), và đó cũng là gia tăng giá trị công ty. Đối với các công ty cổ phần, tối đa hóa giá trị công ty chính là tối đa hóa giá cổ phiếu của công ty; trong khi đó, đối với các loại hình công ty khác, tối đa hóa giá trị công ty được thể hiện qua mục tiêu tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đồng thời với việc nâng cao uy tín thương hiệu và mở rộng thị phần. Những người quản lý công ty, cấp cao nhất dưới góc độ tài chính là giám đốc tài chính (CFO - Chief financial officer) là người đại diện cho các chủ sở hữu (cổ đông), là người cần biết rõ mục tiêu của chủ sở hữu (cổ đông) là tăng giá trị công ty, tiến đến gia tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu (cổ đông) và điều này thể hiện qua giá cổ phiếu trên thị trường (Siallagan and Machfoedz, 2006; Ngô Kim Phượng, 2007). Nếu cổ đông không hài lòng với hoạt động của công ty và hành vi, quyết định của người quản lý thì họ sẽ bán cổ phiếu và rút vốn đầu tư vào công ty khác, lĩnh vực khác; điều này đòi hỏi người quản lý công ty phải tập trung vào việc tạo ra giá trị cho cổ đông nhằm làm cho cổ đông hài lòng vì thấy mục tiêu của họ được thực hiện.
5 Giá trị công ty được tiếp cận trên các khía cạnh như sau: giá trị thị trường (market value), giá trị sổ sách (book value), giá trị thanh lý (liquidation value); trong đó, mục tiêu của quản trị tài chính công ty cần phải được tiếp cận và đánh giá theo giá trị thị trường chứ không thể căn cứ vào giá trị sổ sách hay giá trị thanh lý (Ngô Kim Phượng, 2007). Giá trị thị trường được xác định trên cơ sở khả năng mang lại lợi nhuận của công ty nhờ vào uy tín thương hiệu, thị phần, bí quyết công nghệ và năng lực quản lý công ty chứ không phụ thuộc đơn thuần vào giá trị thị trường của tài sản thực trong điều kiện công ty vẫn tiếp tục hoạt động và càng lại không phải là giá trị tài sản theo sổ sách. Xuất phát từ sự xuất hiện của kiến thức kinh tế, việc triển khai và áp dụng kiến thức, công nghệ thông tin đã trở thành những vấn đề quan trọng nhất và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mỗi công ty, khi đó cách thức chủ yếu để tạo ra giá trị cũng như tạo ra sự gia tăng giá trị công ty là dựa trên việc chuyển giao từ yếu tố hữu hình truyền thống sang yếu tố vô hình (Roos and Roos, 1997; Eckstein, 2004). Tài sản vô hình là khả năng của công ty được tạo ra bởi các nguồn lực kiến thức cốt lõi và kiến thức, bao gồm cơ cấu tổ chức, kỹ năng làm việc chuyên gia, lực lượng lao động làm việc, năng lực đổi mới nghiên cứu và phát triển, nhận diện thương hiệu của khách hàng và thị trường cổ phiếu; nó đại diện cho cơ hội phát triển tương lai và lợi nhuận hướng tới giá trị công ty và vì vậy, nếu tiếp cận và đánh giá giá trị công ty thì không chỉ xem xét về tài sản hữu hình nhưng mà còn phải coi trọng sức mạnh của tài sản vô hình (Chan et al.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của chính sách cổ tức và các yếu tố liên quan đến giá trị công ty 1.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách cổ tức Chính sách cổ tức là chính sách ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào.
Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng trong tương lai, trong khi đó cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại. Chính sách cổ tức hay còn gọi là chính sách phân phối là một trong ba quyết định tài chính quan trọng trong một công ty và nó có liên hệ mật thiết với hai chính sách tài chính còn lại là chính sách tài trợ và chính sách đầu tư. Để đo lường chính sách cổ tức, các chỉ tiêu thường được sử dụng dưới góc độ quản trị tài chính công ty là cổ tức trên một cổ phần thường, tỷ lệ chi trả cổ tức.
6 Cổ tức trên một cổ phần là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh. Cổ tức một cổ phần được tính dựa vào phần trăm mệnh giá cổ phần thường. Cổ tức một cổ phần thường cũng có thể được tính toán như sau: Tổng thu nhập CP thường dùng để chi trả cổ tức Cổ tức một phần CP thường = Tổng số cổ phần thường Cổ tức một cổ phần thường là thu nhập thực tế mà nhà đầu tư nhận được ngay trong hiện tại nên nhà đầu tư rất quan tâm đến chỉ tiêu này. Các cổ đông thường chú ý đến mức thay đổi trong cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác.
Một sự tăng lên trong cổ tức một cổ phần thường mang lại hiệu ứng tốt trong tâm lý của các nhà đầu tư và ngược lại nếu cổ tức một cổ phần bị sụt giảm. Nhưng chỉ tiêu cổ tức một cổ phần thường không phải là chỉ tiêu đo lường triệt để của chính sách cổ tức. Vì, nếu dựa vào chỉ tiêu này, nhà đầu tư chỉ biết họ nhận được bao nhiêu tiền từ cổ tức, chứ họ không biết công ty đã trích bao nhiêu phần trăm từ lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức cho các cổ đông và bao nhiêu để giữ lại cho đầu tư và có một chỉ tiêu khác có thể đo lường được yêu cầu này đó là tỷ lệ chi trả cổ tức. Tỷ lệ chi trả cổ tức là tỷ số phản ánh mức cổ tức mà các cổ đông của công ty cổ phần được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập một cổ phần thường mà công ty tạo ra trong kỳ và được tính như sau: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức cũng cho biết công ty dành ra bao nhiêu phần trăm từ thu nhập một cổ phần thường để tái đầu tư.
Tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao phản ánh công ty đã sử dụng đại bộ phận lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, ngược lại với tỷ lệ chi trả cổ tức thấp. Những nhà đầu tư nào muốn tìm kiếm thu nhập cho những nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại sẽ thích một công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức cao. Ngược lại, những nhà đầu tư chưa có nhu cầu nhận thu nhập từ cổ tức ngay trong hiện tại và mong chờ một sự gia tăng giá trị cổ phần thường trong tương lai thì họ lại thích các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp và giữ lại lợi nhuận nhiều hơn để tái đầu tư.2 Lý thuyết Miller và Modigliani (M&M) Trước khi công bố bài báo có tác động của Miller và Modigliani, nó đã được chấp nhận rộng rãi rằng sự chia sẻ nhiều hơn của một công ty, giá trị của một công ty lớn hơn, Theo Allen và Michaely, Lý thuyết này nói rằng giá trị của công ty (V0) tại thời điểm 0 nếu cổ tức dự kiến đầu tiên được trả sau một năm, có thể được tính như sau: ∞ 𝐷𝐷𝐷𝐷 𝑉𝑉0 = � 𝑟𝑟=1 (1 + 𝑟𝑟1)^𝑡𝑡 Trong đó: Dt là khoản tiền chia cho công ty khi kết thúc kỳ t r1 = Suất sinh lợi yêu cầu Gordon được trích dẫn bởi Allen và Michealy, đã tuyên bố rằng tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu của nhà đầu tư r1. Sẽ tăng lên do tăng thu nhập được giữ lại, Gordon cảm thấy rằng r1 cao hơn sẽ thấp hơn hiệu lực mặc dù dòng cổ tức trong tương lai có lẽ sẽ cao hơn do kết quả của việc tăng đầu tư (Tức là, Dt sẽ phát triển nhanh hơn).
Lý do tăng r1 có thể là sự không chắc chắn cao hơn liên quan. Dòng tiền thu được do sự chậm trễ của dòng cổ tức. Mô hình M&M (1959) không đồng ý với quan điểm lý thuyết cổ tức liên quan này và chỉ ra một khuôn khổ khắt khe để phân tích chính sách cổ tức, Miller và Modigliani đã điều tra tác động của chính sách cổ tức đối với giá cổ phiếu của công ty một thị trường vốn hoàn hảo; Chính sách chia cổ tức của công ty sẽ không tác động đến giá trị của công ty. Ý tưởng cơ bản nằm trong luận điểm của họ là giá trị công ty được xác định bởi dòng tiền mặt hiện tại và tương lai của công ty (tức là quyết định đầu tư vốn của công ty).
M&M (1961) cho thấy rằng sự giàu có của các cổ đông không bị tác động bởi quyết định chia cổ tức, và cũng lập luận rằng các nhà đầu tư tự nhiên sẽ không quan tâm đến sự lựa chọn giữa cổ tức và lợi nhuận vốn. M&M (1961) tiếp tục tuyên bố rằng nếu các nhà đầu tư cần thu nhập, họ có thể chủ yếu tạo ra chính sách chia sẻ tự chế của mình bằng cách bán cổ phần vốn cổ phần hiện tại của họ.