đặt vấn đề và nêu lên tính cấp thiết của vấn đề cần phải nghiên cứu. Từ đó, tác giả định ra mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu tương ứng cần phải hoàn thành. Nhằm để giải quyết được vấn đề nghiên cứu thì tác giả đã xem xét các đối tượng nghiên cứu cũng như thu thập số liệu và giai đoạn nghiên cứu. đồng thời, trong chương này đã trình bày phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ tiếp cận để đạt được kết quả nghiên cứu 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Tổng quan lý thuyết 2. Cổ tức và chính sách cổ tức 2. Khái niệm cổ tức Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành để chi trả cho các cổ đông (chủ sở hữu công ty). Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần.
Cổ tức được phân loại theo các phương thức chi trả như sau: Cổ tức tiền mặt: là số đơn vị tiền mặt mà công ty thanh toán cho các chủ sở hữu tính trên một đơn vị cổ phần hoặc theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá cổ phiếu. Hầu hết cổ tức sẽ được chi trả dưới dạng tiền mặt, điều này sẽ có lợi cho cổ đông, vì đây là nguồn thu nhập ngay trong hiện tại mà họ có thể sử dụng mà không tốn chi phí giao dịch bán cổ phiếu để thu về tiền mặt. Tuy nhiên, khi trả cổ tức bằng tiền mặt thì công ty sẽ giảm đi một lượng tiền mặt điều này làm giảm tài sản trên bảng cân đối kế toán, giảm lợi nhuận chưa phân phối tức là sẽ giảm vốn chủ sở hữu. Cổ tức bằng cổ phiếu: đây là hình thức mà các công ty sẽ chi trả thêm cổ phần thường cho các cổ đông đang nắm giữ cổ phần thường theo một tỷ lệ nhất định và không nhận về bất cứ khoản thanh toán nào từ phía cổ đông.
Khi thực hiện việc chi trả này thì trong công ty sẽ không có sự thay đổi nào về vốn cổ đông cũng như tài sản công ty. Việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu thường giống như chia tách cổ phiếu. Hai trường hợp này đều làm gia tăng số lượng cổ phiếu trong công ty và làm giảm giá cố phiếu. Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu làm gia tăng vốn chủ hữu tuy nhiên lại làm cho thu nhập trên cổ phiếu giảm xuống, trong khi đó tách cổ phiếu sẽ làm giảm mệnh giá của cổ phiếu.
9 Cổ tức trả bằng tài sản: đối với hình thức này thì công ty sẽ tiến hành trả cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của công ty khác mà mình sở hữu. Chính sách cổ tức là sự ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty đem phân phối với tỷ lệ phù hợp để giữ lại cho các hoạt động tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông. Lợi nhuận giữ lại được dùng để tái đầu tư, bổ sung nguồn vốn kinh doanh và kích thích sự tăng trưởng cho công ty do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần trong tương lai, mặt khác, cổ tức thì được xem là phần lợi nhuận hữu hình hiện tại của cổ đông và có thể không phát sinh gì thêm nếu cổ đông không tái đầu tư. Chính sách cổ tức luôn bao hàm hai nội dung đó là tỷ lệ chia cổ tức và thời gian chi trả.
Trong công ty cổ phần, việc quyết định phân chia cổ tức không chỉ là việc chia lợi nhuận cho các cổ đông mà nó còn liên quan đến chiến lược hoạt động và công tác quản lý tài chính cho công ty, do đó đây là công việc cực kì quan trọng. Chính sách cổ tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các cổ đông. Cổ tức được xem là nguồn thu nhập thường xuyên và duy nhất khi họ đầu tư vào công ty. Công ty duy trì tỷ lệ hay thời gian chi trả ổn định hay bất ổn định, đều đặn hay thất thường sẽ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp vào quan điểm của các cổ đông điều này sẽ dẫn đến diễn biến giá trị cổ phiếu của công ty trên thị trường thay đổi theo hướng tích cực hay tiêu cực.
Mặt khác, chính sách này có liên quan mật thiết đến nguồn tài trợ của công ty. Do chính sách cổ tức sẽ quyết định luôn chính sách tài trợ vì lợi nhuận giữ lại là nguồn quan trọng trong việc tài trợ bằng vốn cổ phần. Vì vậy, chính sách cổ tức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến số lượng cổ phần thường trong cấu trúc vốn và ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của công ty. Cuối cùng, chính sách đầu tư của công ty phụ thuộc nhiều vào chính sách cổ tức vì lợi nhuận được giữ lại được xem là nguồn tài trợ có chi phí sử dụng thấp và không mất thời gian huy động, công ty có thể sử dụng nguồn vốn này đầu tư vào các dự án có suất sinh lời một cách linh hoạt.
Do đó, nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại bổ sung có thể kích thích được tăng trưởng và ảnh hưởng đến giá trị cổ phần cũng như giá trị công ty trong tương lai. Chính sách cổ tức Chính sách cổ tức (Dividend Policy) thể hiện quyết định giữa việc chi trả dòng tiền sau thuế từ các hoạt động trong năm cho những người sở hữu cổ phiếu so với việc sẽ giữ lại dòng tiền này để tái đầu tư. Căn cứ vào tình hình hoạt động của công ty trong năm và chính sách cổ tức đã được thông qua bởi các cổ đông, những người chủ doanh nghiệp sẽ thông qua đó để quyết định việc chi trả trong năm đó và năm tiếp theo. Như vậy, cổ tức là một phần lợi nhuận sau thuế sẽ được chi trả cho cổ đông bằng nhiều hình thức khác nhau như: trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu hay mua lại cổ phần,.
Do đó, chúng ta có thể nhận xét rằng thông qua việc chi trả cổ tức sẽ thể hiện rõ hơn về hiệu quả hoạt động của công ty. Vì thế vấn đề tăng hay giảm cổ tức của công ty đều có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu của công ty đó trên thị trường. Mặt khác, nếu như tỷ lệ tái đầu tư của công ty cao, nhưng công ty vẫn có thể duy trì được mức sinh lợi trên mỗi đồng vốn thì điều này sẽ gia tăng thu nhập và chi trả cổ tức cho các cổ đông hiện hành và ngược lại. Những vấn đề nêu trên đã cho ta thấy được rằng mục tiêu của chính sách cổ tức đó chính là tối đa hóa lợi ích cho cổ đông.
Tức là lựa chọn phương án phân chia cổ tức để đảm bảo tối đa hóa được tỉ lệ tăng trưởng của các cổ đông và làm giảm thiểu rủi ro đối với họ. Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách này xác nhận công ty nên giữ lại lợi nhuận khi công ty có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lời cao hơn tỷ suất sinh lời mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi. Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc chi trả cổ tức của công ty là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tuỳ thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên hầy hết các công ty thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian.
Điều này không có nghĩa các công ty đã bỏ qua 11 nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động mà vì cổ tức được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách: Thứ nhất, các công ty có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có vốn nhu cầu cao. Nếu các đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các chủ công ty có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức. Thứ hai, công ty có thể đi vay vốn đáp ứng các nhu cầu đầu tư do đó tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tạm thời tránh giảm cổ tức. Nếu công ty có nhiều cơ hội đầu tư trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn để cắt giảm cổ tức.
Sau đó, trong những năm tiếp theo doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp. Chính sách cổ tức tiền mặt cố định Đa số các công ty và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định. Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác. Chính sách cổ tức ổn định luôn được ưu tiên vì các lý do như sau: - Các nhà đầu tư luôn cho rằng việc thay đổi chính sách cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin – họ đánh đồng các thay đổi trong mức cổ tức của công ty với mức sinh lợi.
Cắt giảm cổ tức được xem là một dấu hiệu cho thấy công ty đang sụt giảm sự tăng trưởng hay ngược lại đó là sự gia tăng cho lợi nhuận. - Nhiều cổ đông lệ thuộc vào dòng cổ tức không đổi như nhu cầu nhận lợi nhuận của mình. Mặc dù có thể bán bớt cổ phần của mình nhưng do chi phí giao dịch và việc bán đơn lẻ vẫn không có lợi hơn việc nhận cổ tức đều đặn. - Các chủ công ty cho rằng các nhà đầu tư sẽ trả một cái giá cao hơn cho cổ phần công ty nếu tình hình chi trả cổ tức ổn định, do đó sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần của công ty.
12 Tuy nhiên đối với chính sách chi trả cổ tức ổn định này sẽ tạo ra thói quen được nhận sự ổn định cho các cổ đông hoặc nếu trong trường hợp cổ tức đang được chi trả rất cao nhưng thời gian sau đó tài chính khó khăn thì các công ty sẽ rất áp lực khi có kế hoạch trì hoãn cổ tức hoặc phải có lợi nhuận tương lai đủ cao để thoả mãn được cổ đông. Các tỷ số thể hiện chính sách cổ tức Cổ tức trên một cổ phần thường Cổ tức trên một cổ phần thường thể hiện mức thu nhập thực tế mà mỗi cổ phần được nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh.