Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đóng góp mới của nghiên cứu, kết cấu luận án. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế Lược khảo các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện, trên cơ sở đó hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế Phát triển giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng mô hình. Bên cạnh đó, chương 3 cũng trình bày dữ liệu nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á Trình bày thực trạng và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia châu Á. - Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày các kết luận của nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách về quản lý chi tiêu công nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách cải thiện quản trị công nhằm quản lý, sử dụng chi tiêu công tốt hơn hướng đến mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. luan an 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG, QUẢN TRỊ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Giới thiệu chương Trong Chương 2, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài bao gồm các lý thuyết liên quan về tác động của chi tiêu công, quản trị công đến tăng trưởng kinh tế, các mô hình tác động đã được các nhà nghiên cứu phát triển.
Đặc biệt, tác giả cũng trình bày phân tích về tác động của quản trị công lên mối quan hệ của chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan làm cơ sở cho việc phát triển đề tài. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm chi tiêu công Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế- xã hội cho cộng đồng (Minh, 2005).
Định nghĩa này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế xã hội của nhà nước. Theo Minh (2005), chi tiêu công phản ánh các chính sách của chính phủ, cung cấp nguồn lực tài chính cho việc thực thi các chính sách đó. Đặc trưng của chi tiêu công là tính chất không hoàn trả hoặc không hoàn trả trực tiếp, thể hiện ở chỗ kết quả của chi tiêu công không tương ứng với khoản chi cả về số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm. Nhiều khoản chi tiêu công mà lợi ích của nó chỉ thu được sau một thời gian dài, hoặc lợi ích thu được khó đo lường được bằng tiêu chí giá trị tương ứng mà Chính phủ đã bỏ ra.
Chi tiêu công là một công cụ của Chính phủ nhằm cung cấp các hàng hóa công cho xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập, ổn định kinh tế vĩ mô và thu hút vốn đầu tư của khu vực tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo Shah và cộng sự (2005) có nhiều cách thức để phân loại chi tiêu công tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Shah và cộng sự (2005) căn cứ vào mục đích làm nổi bật mối quan hệ giữa chi phí chính phủ bỏ ra và lợi ích mà các cá nhân nhậ luan an 12 được đã phân loại chi tiêu công thành chi tiêu công cụ thể và chi tiêu công chung. Các khoản chi tiêu cụ thể bao gồm chi chuyển giao, chi cho hàng hóa, dịch vụ công.
Các khoản chi chuyển giao bao gồm chi lương hưu, các khoản chi cho mục đích từ thiện và chi cho các tổ chức phi lợi nhuận. Các khoản chi cho hàng hóa, dịch vụ công bao gồm chi tiêu công cho giáo dục, chi tiêu công cho sức khỏe. Trong khi đó, các khoản chi tiêu công chung tập trung vào chi tiêu dùng chính phủ cho hoạt động quản lý, chi tiêu công cho quốc phòng, chi tiêu công cho bảo vệ công dân và tài sản. Các nghiên cứu thực nghiệm khi xem xét tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế thường tập trung vào các khoản chi tiêu công chiếm tỷ trọng lớn, chẳng hạn nghiên cứu của Anh (2008), Efendic & Trkic-Izmirlija (2013) sử dụng các thành phần chi tiêu công bao gồm: chi tiêu công cho giáo dục, chi tiêu công cho sức khỏe, chi tiêu công cho quốc phòng và chi tiêu dùng chính phủ.
Do đó, trong nghiên cứu này, khi phân tích tác động của các thành phần chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế, tác giả cũng tập trung vào chi tiêu công cho giáo dục, chi tiêu công cho sức khỏe, chi tiêu công cho quốc phòng và chi tiêu dùng chính phủ. Khái niệm về quản trị công Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu định nghĩa quản trị công, một số nghiên cứu có thể kể đến như: Schneider (1999) định nghĩa quản trị công là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa quản trị công là chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia. Zinnbauer (2002) định nghĩa quản trị công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính.
Ngân hàng Thế giới định nghĩa quản trị công là việc thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia. Ngân hàng Phát triển châu Phi - African Development Bank mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa (Paul Kagundu, luan an 13 2006). Cụ thể, Ngân hàng Phát triển châu Phi định nghĩa quản trị công là một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý các vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác (Paul Kagundu, 2006). Các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Phi đều tập trung vào khía cạnh hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho các thành viên trong xã hội.
Từ các định nghĩa trên có thể thấy quản trị công là một thuật ngữ đa chiều. Keefer (2004) chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân. Mặc dù các nghiên cứu chưa đưa ra định nghĩa thống nhất nào cho thuật ngữ quản trị công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh cấu thành quản trị công. Theo Jreisat (2002), quản trị công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ.
Các khía cạnh này bao gồm cách tổ chức của hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị. Do quản trị công là một khái niệm đa chiều nên thường được đo lường bằng cảm nhận của công chúng và doanh nghiệp về nhiều khía cạnh khác nhau (Siddiqui & Ahmed, 2013). Hiện tại, nhiều tổ chức thương mại (Political Risk Service (PRS) và Business Environment Risk Intelligence (BERI)) và tổ chức phi thương mại (World Bank, World Economic Forum (WEF), Global Integrity, Freedom House) đã và đang phát triển các bộ chỉ số khác nhau để đo lường chất lượng quản trị công tại các quốc gia. Trong các bộ chỉ số đó thì hai bộ chỉ số được đa phần các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng là chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) và chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (International Country Risk Guide – ICRG).
luan an 14 Chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) là cơ sở dữ liệu dữ liệu về quản trị quốc gia của hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số WGI ra đời năm 1996 và liên tục được hoàn thiện cho đến nay. Chỉ số WGI bao gồm hơn 300 chỉ tiêu từ 30 nguồn dữ liệu khác nhau và được chia thành sáu nhóm chỉ tiêu lớn là: Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability), Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and Absence of Violence), Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness), Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), Nhà nước pháp quyền (Rule of Law), Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption). Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability): đo lường cảm nhận về mức độ tham gia của người dân vào việc lựa chọn chính phủ, mức độ tự do bày tỏ quan điểm của người dân và các phương tiện truyền thông đại chúng.
Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political stability and Absence of Violence): đo lường cảm nhận về khả năng chính phủ không ổn định hay bị lật đổ bởi các phương tiện không hợp hiến hay bạo lực, bao gồm bạo lực có động cơ chính trị và khủng bố. Hiệu quả của chính phủ (Government Effectiveness): đo lường cảm nhận về chất lượng của dịch vụ công và mức độ độc lập với các áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, và tính tin cậy của cam kết thực hiện của chính phủ trong việc thực thi các chính sách này.