phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Bản chất và nội dung công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - Lạng Sơn Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - Lạng Sơn. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. BẢN CHẤT VÀ NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.
Một số vấn đề lý luận về thuế 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế Sự ra đời của thuế là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc xuất hiện đòi hỏi phải có cơ sở vật chất nhất định để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình. Do đó Nhà nƣớc phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào tay Nhà nƣớc.
Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể đƣợc thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc đƣợc gọi là thuế. Thuế có thể thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng ngày công lao động. Với sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ, hệ thống thuế của các quốc gia đã không ngừng phát triển và thuế thu bằng tiền đã trở thành hình thức thu phổ biến. Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế.
Theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản. Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má. Sau này khái niệm về thuế ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Thuế cũng đƣợc tiếp cận trên các góc độ với những nội dung khác nhau: Trên góc độ phân phối thu nhập, ngƣời ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên góc độ ngƣời nộp thuế: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ kinh tế học: Thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm các hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trƣng chung của thuế sau đây: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội.
Thứ hai, những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nƣớc. Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nƣớc đƣợc pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định. Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế nhƣ sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Nghiên cứu về thuế ngƣời ta nhận thấy thuế có các đặc điểm riêng, qua đó phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác, cụ thể: - Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc.
Phân phối mang tính chất bắt buộc dƣới hình thức thuế là phƣơng thức phân phối mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của ngƣời nộp thuế mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế. Tính chất bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế, do đó không thể sử dụng phƣơng pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nƣớc tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tƣợng có thu nhập phải chuyển giao. Thứ hai, do tính chất đặc biệt của hàng hóa công cộng là không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và ngƣời thụ hƣởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần, không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trƣờng để bù đắp các chi phí nên chỉ có Nhà nƣớc, thông qua phƣơng pháp thuế mới có thể bắt buộc tất cả mọi ngƣời phải chuyển giao thu nhập của mình cho Nhà nƣớc để đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng này.
Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp của mọi thể nhân và pháp nhân đối với lợi ích công cộng của toàn xã hội và đƣợc thể chế hóa trong hiến pháp của các quốc gia. Nhà nƣớc ban hành các luật thuế và các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm chấp hành. - Việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế có tính không hoàn trả trực tiếp. Trƣớc khi thu thuế, Nhà nƣớc không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho ngƣời nộp thuế.
Sau khi nộp thuế, Nhà nƣớc cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho ngƣời nộp thuế. Cũng nhƣ vậy, ngƣời nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không đƣợc hoặc ít đƣợc sử dụng các dịch vụ công cộng. Ngƣời nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi đƣợc thừa hƣởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi phí trái với nguyên tắc này. Thuế đƣợc hoàn trả gián tiếp cho ngƣời nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc.
- Tính pháp lý cao: Nhà nƣớc là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Vì vậy, để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì nhà nƣớc phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy đƣợc thể hiện bằng luật pháp. Nhƣng những quy định của pháp luật cũng không đƣợc tùy tiện mà phải dựa trên những cơ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở khoa học nhất định để đảm bảo tính khả thi. Vì vậy, trong luật thuế thƣờng xác định trƣớc các yếu tố có tính chất điều chỉnh hành vi nộp thuế nhƣ: đối tƣợng chịu thuế, đối tƣợng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cƣỡng chế khác.
Vai trò của thuế 1. Thuế là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) Xã hội càng phát triển thì các chức năng về kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc ngày càng mở rộng. Để thực hiện các chức năng đó đòi hỏi Nhà nƣớc phải có nguồn thu nhập. Nhà nƣớc có thể thực hiện phát hành tiền, vay nợ, bán tài nguyên, tài sản quốc gia và thu thuế.
Mỗi hình thức có những ƣu, nhƣợc điểm nhất định nhƣng hình thức thu từ thuế là có ƣu điểm nổi trội hơn cả và đang trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN ở hầu hết các nƣớc. So với các hình thức động viên khác, nói chung hình thức động viên qua thuế có nhiều ƣu điểm hơn, cụ thể: Một là, diện động viên rộng, đảm bảo cho mọi công dân có điều kiện thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nƣớc. Hiện nay, trong xã hội, mọi ngƣời nộp thuế cho Nhà nƣớc một cách trực tiếp hay gián tiếp, số thuế Nhà nƣớc thu đƣợc ngày càng tăng. Hơn nữa số thu từ thuế thƣờng ổn định vì thuế mang tính bắt buộc, tính pháp lý cao.
Hai là, động viên qua thuế có chi phí thấp hơn. Thu thuế có phát sinh chi phí, nhƣng nếu so sánh với các hình thức thu khác thì chi phí này tƣơng đối thấp. Hơn nữa, Nhà nƣớc có toàn quyền sở hữu và sử dụng số thuế thu đƣợc. Ba là, thuế có tính linh hoạt hơn các hình thức động viên khác.
Thuế chính là một bộ phận của GDP đƣợc động viên vào NSNN, do vậy khi nền kinh tế phát triển thì số thuế thu đƣợc tăng và ngƣợc lại. Hơn nữa, thông qua thu thuế Nhà nƣớc nhận biết đƣợc tín hiệu của nền kinh tế để thực hiện chức năng quản lý của mình. Thuế là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Thuế thúc đẩy quá trình tích lũy vốn, tạo tiền đề quan trọng để tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Qua việc thu thuế hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc để đầu tƣ vào các công trình lớn đảm bảo tăng trƣởng kinh tế.
Nhà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc sử dụng thuế để tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào của sản xuất nhƣ lao động, vật tƣ, tiền vốn, qua đó thúc đẩy đầu tƣ, tạo điều kiện gia tăng việc làm, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế tăng trƣởng cao. - Thuế góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế.