CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CÁ NHÂN CHO Y TẾ VÀ SỰ THAM GIA LAO ĐỘNG CỦA CÁ NHÂN 1. Chi tiêu cá nhân cho y tế 1. Khái niệm Chi tiêu tư cho y tế cùng với chi tiêu công cho y tế là 2 bộ phận cấu thành nên tổng chi tiêu quốc gia cho y tế. Trong đó, chi tiêu của Chính phủ cho y tế (chi tiêu công) bao gồm các khoản chi trực tiếp và gián tiếp, được hình thành từ vốn từ ngân sách nhà nước các cấp, được thực hiện bởi chính quyền các cấp, các tổ chức an sinh xã hội, các cơ quan phi Chính phủ và các quỹ ngoài ngân sách khác.
Chi tiêu công cho y tế bao gồm chi Ngân sách Nhà nước cho y tế (không tính chi Ngân sách Nhà nước cấp qua bảo hiểm y tế, chi quỹ bảo hiểm y tế xã hội, và chi từ nguồn ODA. Chi tiêu tư nhân cho y tế bao gồm chi cho y tế trực tiếp của hộ gia đình, chi bởi các tổ chức từ thiện, doanh nghiệp (không tính đóng góp của doanh nghiệp cho bảo hiểm y tế xã hội), và chi bảo hiểm y tế tư nhân. Chi tư nhân cho y tế là các khoản chi do cá nhân, hộ gia đình trả trực tiếp cho nhà cung ứng dịch vụ khi ốm đau và sử dụng dịch vụ, khi mua thuốc và các vật tư thiết bị liên quan đến sức khỏe. Ngoài ra chi tư còn bao gồm các khoản chi cho Bảo hiểm y tế tư nhân, các khoản tài trợ của các tổ chức xã hội, từ thiện và các khoảng chi trả trực tiếp của chủ sử dụng lao động cho các dịch vụ y tế nhưng quy mô thường nhỏ.
Chi từ bảo hiểm y tế tư nhân vì lợi nhuận cũng được tính là chi tư. Chi tiêu cá nhân cho y tế bao gồm chi tiêu cho y tế trực tiếp từ túi tiền của các nhân (out of pocket expenditures), các chương trình bảo hiểm cá nhân, bảo hiểm nghề nghiệp. Trong đó chi tiêu y tế trực tiếp của các nhân/hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất. Chi tiêu y tế trực tiếp cho chăm sóc sức khỏe bao gồm chi tiêu trực tiếp của người tiêu dùng cho tất cả các mặt hàng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cụ 6 thể như chi cho phí, lệ phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc, vật tư y tế và tiền trả cho các dịch vụ bệnh viện.
Chi phí từ tiền túi cho y tế không bao gồm các khoản chi đã được bảo hiểm y tế thanh toán và thường không tính chi cho đi lại và ăn uống đặc biệt. Chi phí từ tiền túi cho y tế của hộ gia đình thuộc nhóm chi tư cho y tế, tức là chi trực tiếp của từng hộ gia đình riêng biệt, phụ thuộc vào khả năng chi trả của hộ gia đình, không có sự chia sẻ rủi ro như các nguồn chi công , nguồn tài chính từ chi trả trước đã được tập hợp thành quỹ (Ngân sách Nhà nước, quỹ Bảo hiểm y tế xã hội). Khái niệm về chi tiêu công và tư cho y tế giúp trả lời câu hỏi: “Ai là người trả tiền cho dịch vụ y tế” chứ không liên quan đến “Ai là người cung ứng dịch vụ y tế”. Trên thực tế, chi tiêu công thường được dùng chủ yếu để trả cho đơn vị cung ứng dịch vụ công, nhưng cũng có thể được dùng để trả tại đơn vị cung ứng tư (bảo hiểm y tế xã hội thanh toán cho bệnh viện tư).
Tương tự, chi tiêu tư có thể được trả ở đơn vị cung ứng công (viện phí thu tại bệnh viện công) hoặc đơn vị cung ứng tư. Trên thế giới hầu hết các quốc gia đều có một hệ thống cung ứng dịch vụ công tư hỗn hợp, đồng thời quốc gia nào cũng có một hệ thống tài chính dựa vào chi công và chi tư. Tuy nhiên, về mặt chiến lược, để đạt được mục đích công bằng trong chăm sóc sức khỏe, các nước thường có xu hướng nâng tỷ trọng chi tiêu công cao, giảm tỷ lệ người dân phải tự chi trả cho y tế bằng tiền túi. Chi tiêu công thường công bằng hơn trong đóng góp, mang tính chia sẻ hơn trong hưởng thụ.
Chi tiêu tư, đặc biệt là chi từ tiền túi của cá nhân và hộ gia đình khi ốm đau được coi là mất công bằng, là lý do đẩy người dân vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhất là đối với các hộ gia đình, các nhân có thu nhập thấp. Các chỉ tiêu phản ánh chi tiêu cá nhân cho y tế Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh chi tiêu cá nhân cho y tế. Sau đây là một số các chỉ tiêu quan trọng nhất: - Tổng số chi phí cho dịch vụ y tế mà cá nhân phải bỏ ra trả cho dịch vụ chăm sóc y tế trong một thời gian nhất định, ví dụ một tháng hoặc quý hay một năm.; 7 - Tỷ lệ giữa chi tiêu cá nhân cho y tế và tổng chi tiêu cho y tế: Chỉ tiêu này cho biết chi tiêu cá nhân cho y tế chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng chi tiêu cá nhân cho y tế. - Tỷ lệ chi tiền mặt cho y tế và chi tiêu cá nhân cho y tế.
- Chi tiêu cá nhân bình quân đầu người cho y tế: Chỉ tiêu này phản ánh chi phí trung bình một người đã bỏ ra để tiêu dùng và tham gia vào các sản phẩm cũng như dịch vụ y tế. - Chi phí thảm họa: Khi chi phí từ tiền túi của hộ gia đình bằng hoặc lớn hơn 40% khả năng chi trả của hộ gia đình (là phần thu nhập còn lại của hộ gia đình sau khi đã trừ đi khoản chi cho lương thực, thực phẩm) thì trở thành chi phí y tế thảm họa. Vai trò của chi tiêu cá nhân cho y tế Có hai luồng tài chính cho y tế là luồng tài chính công và luồng tài chính tư. Có hai luồng tài chính công lớn để cung cấp tài chính cho y tế ở Việt Nam, đó là nguồn từ Ngân sách Nhà nước cấp trực tiếp cho đơn vị cung ứng dịch vụ, thông qua Bộ Y tế và Sở Y tế/Sở Tài chính và luồng từ quỹ Bảo hiểm xã hội.
Bên cạnh hai luồng tài chính công này, còn có một nguồn tài chính rất lớn nữa, đó là nguồn tài chính do cá nhân, hộ gia đình chi trả trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ y tế hoặc mua thuốc điều trị khi ốm đau. Tài chính y tế ở Việt Nam hiện tại phụ thuộc khá nhiều váo các khoản chi trả trực tiếp này. Quy mô và vai trò của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe là khác nhau giữa các quốc gia cũng như giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực y tế giúp tăng hiệu quả, chất lượng, khả năng đáp ứng nhu cầu và làm phong phú thêm các sự lựa chọn khi có nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân.
Ở Việt Nam, khoản chi tiêu cho y tế của Chính phủ còn rất hạn chế. Vai trò của chi cá nhân cho y tế có những vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay, thể hiện: 8 - Là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho các nguồn chi tiêu y tế từ khu vực công. Y tế tư nhân góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi tham gia vào lĩnh vực y tế, góp phần chia sẻ gánh nặng tài chính với khu vực y tế công. - Giúp thực hiện được chủ trương xã hội hóa trong cung cấp các dịch vụ công mà các quốc gia đang cố gắng đẩy mạnh.
Sự nghiệp y tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho người dân nên đòi hỏi phải có sự đóng góp tích cực từ cả phía Nhà nước cũng như nhân dân vào các hoạt động y tế. Theo Nghị quyết về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa ngày 21 tháng 8 năm 1997, xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của người dân. Sự nghiệp y tế nếu chỉ được bảo đảm từ phía Nhà nước sẽ không tạo đà cho sự phát triển nhanh và bền vững, do đó, yêu cầu khuyến khích xã hội hóa đối với sự nghiệp y tế là thực sự cần thiết bởi xã hội hóa đối với sự nghiệp y tế góp phần tạo điều kiện lồng ghép các yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân trong các chính sách vĩ mô về kinh tế, xã hội, các chương trình, dự án phát triển sản xuất, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo. Hơn nữa, xã hội hóa y tế cũng góp phần đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức khỏe, tìm kiếm và khai thác các nguồn đầu tư khác nhau cho y tế như: bảo hiểm y tế tự nguyện, viện trợ nước ngoài.
Việc thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tư đã góp phần đáp ứng đầy đủ hơn cả về số lượng và sự đa dạng về nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, góp phần giúp giảm tải tình trạng quá tải tại các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh công. - Chi y tế là động lực giúp duy trì và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng và thể lực, tăng năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.2 Sự tham gia lao động của cá nhân Sự tham gia lao động của cá nhân thể hiện trên hai phương diện. Các cá nhân phải thực hiện trả lời hai câu hỏi chính liên quan đến cung ứng lao động. Đó là có làm việc hay không (có tham gia vào thị trường lao động không?) và làm việc bao nhiêu (Ví dụ: làm việc bao nhiêu tiếng 1 ngày? Bao nhiêu ngày 1 tuần?).
Quyết định có làm việc hay không là 1 sự lựa chọn giữa có hoặc không, và chỉ có 1 trong 2 khả năng được đưa ra. Còn câu hỏi làm việc bao nhiêu có thể có nhiều khả năng. Ví dụ làm việc 1,2,…8, 9,… tiếng 1 ngày hoặc làm việc 1,2,…. Như vậy sự tham gia lao động ở đay đưuọc hiểu theo hai giác độ.
Một là, cá nhân đó có tham gia lao động hay không và hai là khi tham gia lao động thì mức độ làm việc như thế nào.