Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2: Phân tích mô tả, kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tại Chi cục thuế quận Phú Nhuận Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu Chương này giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Chương này bao gồm hai phần chính. Đầu tiên tóm tắt lý thuyết về hai khái niệm chính của nghiên cứu: chất lượng dịch vụ công cảm nhận và sự hài lòng của người nộp thuế. Tiếp theo, là mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên sáu giả thuyết được đề nghị.
Cuối cùng là thiết kế thang đo và mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm chất lƣợng dịch vụ Khác với sản phẩm vật chất hữu hình, người ta có thể đánh giá được chất lượng của sản phẩm một cách dễ dàng thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật, hình dáng, màu sắc. Sản phẩm dịch vụ nói chung có đặc điểm là không thể nhìn thấy, sờ, nếm được, vì vậy để đánh giá chất lượng của dịch vụ rất khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên có hai cách tiếp cận chính trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ. - Đối với khách hàng, họ tiếp cận chất lượng dịch vụ thông qua địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu thông tin, thông qua những lời đồn, biểu tượng và giá cả mà họ thấy.
- Đối với nhà cung cấp dịch vụ, họ tiếp cận chất lượng dịch vụ thông qua sự hài lòng của khách hàng. Chính vì vậy mà người cung ứng dịch vụ thường “vận dụng những bằng chứng” để “ làm cho cái vô hình thành hữu hình”(Theodore Levitt, 1981) và hình tượng hoá những sản phẩm trừu tượng của mình Tuy có nhiều định nghĩa chất lượng khác nhau, như mức độ phù hợp với công dụng, mức độ phù hợp với các yêu cầu, mức độ tự do cải biến, … Tuy nhiên, định nghĩa của Hiệp hội kiểm tra chất lượng Mỹ đưa ra có tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái quát cao và đã được toàn thế giới công nhận: “Chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hay dịch vụ đem lại cho nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu được nói ra hay được hiểu ngầm”.2 Mô hình chất lƣợng dịch vụ theo mô hình SERVQUAL 1.1 Năm khoảng cách chất lƣợng Parasuraman và các cộng sự (1985, 1988) đã xây dựng một mô hình chất lượng dịch vụ làm nổi bật những yêu cầu chủ yếu để đảm bảo chất lượng mong đợi của dịch vụ. Dựa vào kết quả nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ. Hàm ý của mô hình này là chỉ ra năm khoảng trống, là nguyên nhân tạo ra sự không thành công của việc cung ứng dịch vụ ( Hình 1.1 ) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Mô hình năm khoảng cách chất lƣợng dịch vụ Nguồn: Parasuraman & ctg (1985:44) Căn cứ vào mô hình trên ta có thể thấy rằng khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và cảm nhận của nhà quản trị dịch vụ đối với những kỳ vọng đó của khách hàng.
Hay nói một cách khác dễ hiểu hơn là nhà quản trị dịch vụ không hiểu được một cách đúng đắn những gì mà khách hàng mong muốn. Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do cơ quan dịch vụ không hiểu biết được những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ của mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ ( Nguyễn Đình Thọ, 2003 & 2007). Khoảng cách thứ hai là khoảng cách giữa nhận thức của nhà quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ và những tiêu chí cụ thể của chất lượng dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, nhà quản trị dịch vụ có thể nhận thức đúng những mong muốn của khách hàng ( nghĩa là không xuất hiện khoảng cách thứ nhất ), nhưng họ lại gặp khó khăn trong việc biến những nhận thức đó thành những tiêu chí cụ thể của chất lượng dịch vụ và chuyển giao chúng cho khách hàng theo đúng sự kỳ vọng của họ.
Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của cầu dịch vụ, làm cho các cơ quan dịch vụ không thể đáp ứng kịp ( Nguyễn Đình Thọ, 2003 & 2007). Khoảng cách thứ ba là khoảng cách giữa yêu cầu chất lượng dịch vụ và kết quả thực hiện dịch vụ. Khoảng cách này xuất hiện khi các nhân viên thực hiện dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo đúng các tiêu chí chất lượng đã được xác định. Sở dĩ có khoảng cách này là do con người có thể có trình độ tay nghề kém hay vì lý do làm việc quá sức nên họ không muốn hay không thể thực hiện đúng tiêu chuẩn; hay họ buộc phải làm trái với tiêu chuẩn vì họ phải để nhiều thời gian lắng nghe khách hàng rồi sau đó phục vụ họ một cách vội vàng.
Khoảng cách thứ tư là khoảng cách giữa thực tế cung ứng dịch vụ và thông tin đối ngoại. Những mong đợi của khách hàng về chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những lời tuyên bố, hứa hẹn từ phía lãnh đạo của cơ quan cung cấp dịch vụ. Khoảng cách thứ tư xuất hiện khi thực tế cung cấp dịch vụ của các cơ quan không đúng như những gì mà họ đã nói, đã hứa hẹn, lúc đó cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ của đơn vị sẽ bị giảm. Khoảng cách thứ năm trong mô hình là khoảng cách giữa chất lượng kỳ vọng của khách hàng và chất lượng dịch vụ họ cảm nhận được.
Khoảng cách này xuất hiện khi khách hàng lượng định kết quả thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của cơ quan cung cấp dịch vụ theo một cách khác và nhận thức sai chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này. Một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ đượ xem là hoàn hảo (Nguyễn Đình Thọ, 2003). Parasuraman và các cộng sự (1985, 1988) cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm.
Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, nghĩa là các khoảng cách 1, 2, 3 và 4. Vì thế, để rút ngắn khoảng cách thứ năm, hay làm tăng chất lượng dịch vụ, nhà quản trị phải nổ lực rút ngắn các khoảng cách này.2 Thành phần chất lƣợng dịch vụ: Parasuraman & ctg (1985) cho rằng bất cứ lĩnh vực dịch vụ nào nhận thức (cảm nhận) về chất lượng dịch vụ cũng đều có thể đo lường thông qua mười thành phần sau: - Tin cậy (Reliability) - Đáp ứng (Responsiveness) - Năng lực phục vụ (Competence) - Tiếp cận (Access) - Lịch thiệp (Courtesy) - Thông tin (Communication) - Tín nhiệm (Credibility) - An toàn (Security) - Đồng cảm với khách hàng (Understanding/ Knowing the customer) - Phương tiện hữu hình (Tangibles) Mô hình đo lường này gọi là thang đo SERVQUAL, mô hình này có ưu điểm là bao quát hầu hết các khía cạnh của dịch vụ, nhưng rất phức tạp trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc đo lường và đánh giá. Hơn nữa, mô hình này mang tính lý thuyết và có một số thành phần không đạt được giá trị phân biệt. Vì vậy, sau nhiều lần kiểm định, Parasuraman & ctg (1988) đã rút gọn mô hình còn 5 thành phần, được trình bày trong Bảng 1.1 Năm thành phần của chất lƣợng dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1988) Phương tiện hữu Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên và trang thiết hình bị phục vụ cho khách hàng (Tangibility) Sự tin cậy Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn (Reliability) ngay lần đầu tiên Sự đáp ứng Thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp (Responsiveness) dịch vụ kịp thời cho khách hàng Năng lực phục Thể hiện qua trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cung cách vụ phục vụ lịch sự, nhã nhặn đối với khách hàng (Assurance) Sự đồng cảm Thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng (Empathy) Mô hình SERVQUAL với 5 thành phần trên gồm có 44 biến quan sát (22 cặp biến quan sát).
22 biến quan sát được sử dụng để đo lường nhận thức của khách hàng về việc thực hiện dịch vụ, 22 biến quan sát còn lại sẽ đo lường về kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ. Như vậy, mỗi khía cạnh nhỏ của một thành phần chất lượng dịch vụ sẽ được đo lường thông qua 2 biến quan sát: thực hiện và kỳ vọng; hiệu số của thực hiện và kỳ vọng sẽ thể hiện chất lượng dịch vụ. Cronin & Taylor (1992) đã đánh giá lại và đưa ra một số nhận định và thiếu sót của của thang đo SERVQUAL. Từ đó, các nhà nghiên cứu này đã hiệu chỉnh và cho ra đời thang đo mới, lấy tên là SERVPERF, thang đo này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ đo lường mức độ nhận thức về việc thực hiện dịch vụ mà không đo lường giá trị kỳ vọng của khách hàng.
Cronin & Taylor (1992) cho rằng chất lượng dịch vụ chỉ nên đo lường thông qua thái độ của khách hàng, việc sử dụng hai thang điểm (một cho thực hiện dịch vụ, một cho kỳ vọng về dịch vụ) làm giảm độ tin cậy và giá trị phân biệt của thang đo. Hơn nữa, sử dụng SERVPERF sẽ hiệu quả hơn SERVQUAL vì nó đã giảm thiểu đi 50% số lượng câu hỏi khảo sát. Với quan điểm mới này, SERVPERF đã được nhiều ủng hộ từ các tác giả nổi tiếng như: Bolton & Drew, Churchill & Surprenant, Woodruff, … và các nhà nghiên cứu khác trên thế giới.