Chương 1: Giới thiệu 7 Trong chƣơng này, khóa luận trình bày lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cụ thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra còn trình bày khái quát về phƣơng pháp và dữ liệu nghiên cứutiến hành xây dựng giả thuyết nghiên cứu. Bên cạnh những yếu tố trên chƣơng này còn trình bày so lƣợc về ý nghĩa của nghiên cứu mang lại. Chương 2: Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm.
Ở chƣơng này tác giả dựa trên cơ sở lý thuyết của nghiên cứu tiến hành liệt kê tổng quan và phân tích chi tiết các cơ sở lý luận, lí thuyết, các công trình nghiên cứu thực tiễn về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xây dựng mô hình nghiên cứu cụ thể cho đề tài nghiên cứu. Đây là cơ sở để nghiên cứu đƣa ra mô hình nghiên cứu trong Chƣơng 3. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết và kế thừa mô hình nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trƣớc đây đã trình bày ở chƣơng 2, tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu, đồng thời trình bày các giả thuyết nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, cũng nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu và quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu của khóa luận.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chƣơng 4 này, dựa vào mô hình nghiên cứu đã đƣợc đề xuất và dữ liệu thu thập của 25 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng, tác giả tiến hành thực hiện các kiểm định và ƣớc lƣợng hệ số hồi qui các biến trên phần mềm Stata 15, sau đó xác định mức độ tác động cũng nhƣ chiều hƣớng tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Trong chƣơng 5 này, tác giả tiến hành đƣa ra các hàm ý chính sách, các khuyến nghị và giải pháp cụ thể cho vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành hàng tiêu dùng; Bên cạnh đó tác giả chỉ ra các các thiếu sót của nghiên cứu chƣa đƣợc thực hiện đƣợc, những kiến nghị và hƣớng nghiên cứu phát triển tiếp trong tƣơng lai.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Theo (Abor J, 2005), cấu trúc vốn của doanh nghiệp chính là sự cộng hƣởng và cộng tác của rất nhiều nguồn vốn khác nhau mà trong đó, các DN có thể tự đƣa ra các quyết định để chọn một cấu trúc vốn, thay thế cấu trúc vốn, hoặc kết hợp nhiều cấu trúc vốn khác nhau từ quá trình doanh nghiệp đó phát hành chứng quyền, đi thuê tài chính, chứng khoán, ký kết hợp đồng, phát hành trái phiếu, hoặc cũng có thể là việc doanh nghiệp đó sử dụng nhiều hay ít nợ. Tức là, doanh nghiệp luôn có đa dạng cách kết hợp khác nhau để tìm ra một kết hợp cụ thể và phù hợp nhất giúp doanh nghiệp có thể tối đa hoá hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, (Hansanetal, 2014) chỉ rõ cấu trúc vốn doanh nghiệp chính là sự kết hợp của vốn cổ phần bình thƣờng, vốn cổ phần ƣu đãi, nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Cụ thể hơn, cấu trúc vốn là kết quả của nhiều loại nguồn vốn khác nhau kết hợp nên, đƣợc doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo (Ahmad, Pouraghajan & Malekian, 2012) và (Brounen et al. Cấu trúc vốn đƣợc xem nhƣ một nguồn tài trợ của một công ty cho tài sản của nó, mà tại đó nó đƣợc tạo nên từ nợ và vốn chủ sở hữu hay còn gọi là nguồn tài sản sẵn có của DN. Nghiên cứu của (Brounen và cộng sự, 2006) cho rằng ―nói đến cấu trúc vốn của doanh nghiêp là nói đến nguồn vốn của một doanh nghiệp tài trợ cho số tài sản của nó và hỗn hợp vốn sở hữu và nợ‖.2 Đo lƣờng cấu trúc vốn Một cấu trúc vốn của một DN có thể đo lƣờng qua nhiều cách khác nhau nhƣ: tổng số nợ / tổng tài sản, nợ dài hạn / tổng số tài sản; nợ ngắn hạn / tổng số tài sản nhƣ trong các bài nghiên cứu của: (Cespedes và cộng sự, 2010), (Chakraborty, 2010), (Kayo và Kimura, 2011), (Pandey, 2001), (Phan Thi Bich Nguyet và cộng sự, 2017). Ngoài ra, tỉ lệ của cơ cấu nợ có thể đƣợc tính toán bằng giá trị thực trên sổ sách hoặc giá trị của trƣờng thị trƣờng để tiến hành đo lƣờng cấu trúc vốn mà 9 thƣờng thấy rằng các tỉ lệ tổng nợ trên giá trị sổ sách của tổng tài sản đƣợc sử dụng nhiều hơn các tỉ lệ khác.
Từ đó cho thấy, với cách đo lƣờng theo giá sổ sách và đo lƣờng theo giá thị trƣờng sẽ có thể cho những kết quả khác nhau, khiến cho doanh nghiệp có những hình dung khác nhau về cấu trúc vốn và sẽ cân nhắc hoạch định cấu trúc vốn theo giá nào.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn (1) Lý thuyết của Modigliani và Miller (MM Theory) Lý thuyết MM đƣợc coi là tiền đề của những lý thuyết về cấu trúc nguồn vốn, nghiên cứu của (Modigliani & Miller, 1958) minh họa rằng theo các giả định chính yếu, cấu trúc vốn của một công ty không bị ảnh hƣởng bởi cấu trúc vốn của nó mà còn ở nhiều yếu tố khác. Thị trƣờng vốn đƣợc coi là hoàn hảo trong thế giới MM là nơi mà những ngƣời trong và ngoài DN có thông tin hoàn hảo nhƣ nhau; không có các loại chi phí nhƣ: giao dịch, phá sản và chi phí thuế; lựa chọn vốn và nợ trở nên ―không liên quan‖ và các quỹ (vốn) bên trong và bên ngoài có thể đƣợc thay thế hoàn hảo cho nhau. Nếu các giả định chính này đƣợc nới lỏng, cấu trúc vốn có thể trở nên ―có liên quan‖ với giá trị của công ty. (2) Lý thuyết đánh đổi tĩnh (Static Trade-off Theory) Lý thuyết đánh đổi tĩnh có nội dung là, công ty đƣợc cho là đã có thiết lập một tỷ lệ vốn và nợ mục tiêu và sẽ tới tới mục tiêu này dần dần trong tƣơng lai.
Lợi thế mà tài trợ bằng nợ đem lại cho doanh nghiệp hoặc công ty chính là phần lợi ích mà doanh nghiệp đƣợc khấu trừ trong khi thu phải gánh chịu thuế từ phần daonh thu của nguồn vốn chủ sở. Nhƣng tăng nguồn nợ cũng là yếu tố làm tăng rủi ro tài chính của DN, và nó làm cho lựa chọn tài trợ nợ bằng nguồn nợ vay không có chi phí thấp hơn vốn chủ sở hữu. ―Vì vậy, trong sự suy sét đánh đổi tĩnh, các nhà quản lý, điều hành xem quyết định sủ đụng vốn chủ sở hữu hay nợ của công ty là sự đánh đổi giữa lợi ích của lá chắn thuế của nợ và chi phí của sự khánh kiệt tài chính‖. (3) Lý thuyết dựa trên chi phí đại diện (Agency costs-based theory) Lý thuyết đƣợc tạo ra dựa vào chi phí đại diện cho thấy cấu trúc nguồn vốn của DN đƣợc tính những chi phí sau: chi phí cho phát hành nợ và vốn chủ sở hữu.
Các 10 chi phí liên quan đến phát hành vốn CSH hữu bao gồm: i) chi phí giám sát của chủ; ii) chi phí liên quan của đại diện. Chi phí đại diện của nợ bao gồm chi phí cơ hội đây là nguyên nhân thiết yếu gay nên tác động của nợ đối với các quyết định đầu tƣ của công ty; sự giám sát và chi tiêu trái phiếu của cả chủ nợ và ngƣời sở hữu - quản lý; và các chi phí liên quan đến phá sản và sự tổ chức lại (See Hunsaker, 1999). (4) Thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) Các học thuyết đƣợc nghiên cứu và xây dựng dựa trên yếu tố thông tin bất cân xứng nói là những ngƣời bên trong công ty sẽ sở hữu thông tin riêng tƣ về các đặc điểm của dòng tỷ suất sinh lợi hoặc các dự an đầu tƣ tốt mà công ty hay nhà đầu tƣ bên ngoài khó mà biết đến đƣợc. ―Lựa chọn đòn bẩy trong khuôn khổ này đƣợc thiết kế để giảm thiểu sự không có hiệu quả của các quyết định đầu tƣ đƣợc cho là nguyên nhân gây ra bởi sự bất cân xứng thông tin (Myers & Majluf, 1984) hoặc đƣợc sử dụng nhƣ là phát tín hiệu cho các nhà đầu tƣ bên ngoài về thông tin của ngƣời bên trong‖ (Ross, 1977).2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm Theo (Bauer, 2004) thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp biểu hiện ở khả năng tạo ra đƣợc lợi nhuận của doanh nghiệp đó.
Bên cạnh đó, (Siminica & Stefan, 2011) làm rõ về việc hiệu quả của hoạt động kinh doanh là việc tạo ra thu nhập để bù đắp cho những khoản của chính những hoạt động tạo ra thu nhập đó, từ đó dẫn đến có đƣợc thu nhập ròng. Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: ―Hiệu quả là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa‖. Nhƣ vậy, hiệu quả đƣợc đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Nordhaus thì: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lƣợng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lƣợng hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó". 11 ― Có một số quan điểm ý kiến lại cho rằng: hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp đƣợc xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: "Tính hiệu quả đƣợc xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh". Đây là quan điểm đƣợc nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế.
‖ Hiệu quả kinh doanh = Theo giáo trình môn Kinh tế thƣơng mại dịch vụ - NXB Thống Kê 1998, có quan điểm cho rằng: Hiệu quả kinh tế của một quá trình sản xuất kinh doanh là một ― phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu xác định .