Chương 1 trình bày tóm lược các nghiên cứu trên thế giới cũng như một số bài nghiên cứu ở Việt Nam. Dựa trên bài nghiên cứu tiêu biểu của San & Heng (2011) phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn mà đại diện là 6 biến độc lập và hiệu quả hoạt động mà đại diện là 6 biến phụ thuôc được tác giả lấy làm cơ sở để ứng dụng để phân tích tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngành bất động sản của Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của ngành bất động sản Việt Nam.1 Quy trình nghiên cứu Việc phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty bất động sản Việt Nam được thực hiện qua các giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Thu thập dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được tìm kiếm, trích lọc từ các báo cáo tài chính của các công ty thuộc đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn (2009 – 2011). Các báo cáo tài chính của các công ty này đã thông qua kiểm toán và được công bố công khai trên website của Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh & của sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Giai đoạn 2: Nhận diện các biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu, qua đó tác giả tính toán số liệu của các biến độc lập và biến phụ thuộc (các biến liệt kê phần 2.3) Giai đoạn 3: Xử lý các dữ liệu thu thập bằng công cụ phân tích SPSS. Thông qua các phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, đồng thời xem chiều tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc.2 Dữ liệu nghiên cứu Với đề tài cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các công ty bất động sản niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.Tính đến thời điểm năm 2012 thì cả 2 sàn HOSE & HNX có 59 công ty bất động sản niêm yết, trong đó có 33 công ty bất động sản niêm yết bắt đầu từ năm 2010 nhưng do mô hình nghiên cứu mà tác giả chọn được tính dựa trên 6 biến độc lập và 6 biến phụ thuộc, đề tài có những biến khi tính phải dựa vào số lượng cổ phiếu đang lưu hành và giá thị trường cổ phiếu. Do vậy tác giả chỉ chọn ra được 26 công ty LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 bất động sản niêm yết trên cả 2 sàn HOSE & HNX từ năm 2009. Chi tiết từng công ty như sau: Bảng 2.1: Danh mục các công ty bất động sản nghiên cứu.
STT Mã CK Tên công ty 1 BCI Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Bình Chánh 2 D2D Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Công nghiệp Số 2 3 DIG Tổng công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng 4 DXG Công ty cổ phần Dịch vụ và Xây dựng địa ốc Đất Xanh 5 HAG Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai 6 HDC Công ty cổ phần Phát triển nhà Bà Rịa – Vũng Tàu 7 ITA CTCP Đầu tư Công nghiệp Tân Tạo 8 ITC Công ty Cổ phần Đầu tư - Kinh doanh nhà 9 KBC Tổng Công ty Phát triển Đô Thị Kinh Bắc 10 LCG Công ty cổ phần LICOGI 16 11 LGL Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Long Giang 12 NBB Công ty Cổ phần Đầu tư Năm Bảy Bảy 13 NTL Công ty cổ phần Phát triển đô thị Từ Liêm 14 RCL Công ty Cổ phần Địa ốc Chợ Lớn 15 REE Công ty cổ phần Cơ điện lạnh 16 SC5 Công ty cổ phần Xây dựng số 5 17 SDU Công ty cổ phần Đầu tư XD và Phát triển đô thị Sông Đà 18 SJS Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Đô thị và KCN Sông Đà 19 SZL Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành 20 TDH Công ty Cổ phần Phát triển nhà Thủ Đức 21 TIX Công ty Cổ phần SX KD XNKDV & Đầu tư Tân Bình 22 TKC Công ty Xây dựng và Kinh doanh địa ốc Tân Kỷ 23 UIC Công ty cổ phần Đầu tư phát triển Nhà và Đô thị IDICO 24 VIC Tập Đoàn VINGROUP - Công ty cổ phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 25 VNI Công ty cổ phần Đầu tư bất động sản Việt Nam 26 VPH Công ty cổ phần Vạn Phát Hưng 2.3 Các biến nghiên cứu. Nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của công ty bất động sản, bài viết này sử dụng 6 biến độc lập đo lường cấu trúc vốn của công ty và 4 biến phụ thuộc đo lường hiệu quả hoạt động của công ty. Đo lường cấu trúc vốn, có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau để đo lường như nghiên cứu của Abor (2005& 2007), Ebaid (2009), AbuduGhafoorkhan(2012) đã dùng 3 chỉ tiêu như nợ ngắn hạn trên tổng tài sản; nợ dài hạn trên tổng tài sản; tổng nợ trên tổng tài sản, nghiên cứu của Rajan & Zingales (1995), Mahdisalehi & Kumarss Biglar (2009) còn đưa biến Nợ trên vốn (DC) để đo lường cấu trúc vốn, nghiên cứu của Nour Abu Rub(2012) ngoài 3 biến như mô hình của Ebaid còn đưa thêm biến tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (TDTE), trong khi đó mô hình nghiên cứu của San & Heng (2011) đưa ra 6 biến gồm tổng nợ trên vốn, nợ dài hạn trên vốn, tổng nợ trên tổng tài sản, nợ trên vốn thị trường, nợ trên vốn cổ phần thường, nợ dài hạn trên vốn cổ phần thường. Kế thừa những nghiên cứu đó, tác giả chọn các biến độc lập sau biểu thị cấu trúc vốn của công ty: DC - Tổng nợ trên vốn; TDTE - Tổng nợ trên vốn chủ sở hữu; DEMV- Nợ trên vốn thị trường; SDA- Nợ ngắn hạn trên tổng tài sản; LDA - Nợ dài hạn trên tổng tài sản; T-biến thời gian (biến xu hướng).Tác giả đưa biến thời gian vào nhằm xem xét tác động của xu thế thời gian tới biến phụ thuộc trong mô hình.
Như vậy bên cạnh các biến biểu thị cấu trúc vốn của công ty ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thì còn những yếu tố không quan sát, đo lường được mà mang tính xu hướng, quán tính.thì sử dụng biến thời gian trong mô hình để biểu thị. Đo lường hiệu quả hoạt động, các nghiên cứu như Bettis và Hall (1982), Demsetz và Lehn (1985), Habib và Victor (1991), Gorton và Rosen (1995), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. đã sử dụng tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu và các biến khác để đo lường hiệu quả hoạt động trong các nghiên cứu của họ, Pawanenthiren Pratheep kanth (2012) dùng các chỉ tiêu như Lợi nhuận gộp, lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên tài sản; nghiên cứu của San & Heng (2011) các biến đại diện hiệu quả hoạt động như: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu; thu nhập trên mỗi cổ phần, hệ số biên lợi nhuân hoạt động, hệ số biên lợi nhuận ròng. Qua những nghiên cứu trên tác giả vận dụng các biến đo lường mà San & Heng đã nghiên cứu trước đó để đo lường hiệu quả của các công ty bất động sản tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2011, cụ thể các biến phụ thuộc sau: 9 ROE - Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu 9 EPS - Thu nhập trên mỗi cổ phần, 9 OPM - Hệ số biên lợi nhuận hoạt động 9 NPM– Hệ số biên lợi nhuận ròng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Sơ đồ tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc. TDTE- Total debt to ROE-Return on equity equity DC- Debt to capital EPS- Earning per share DEMV- Debt to Cấu Hiệu equity market value trúc quả vốn hoạt OPM- Operating SDA-Short term động profit margin debt to asset LDA- Long term NP-Net profit debt to asset margin TIME- Time 2.4 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Phân tích thống kê mô tả Phương pháp này được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập nhằm có cái nhìn tổng quát nhất về mẫu nghiên cứu. Thông qua mô tả, tóm tắt thống kê các biến độc lập và biến phụ thuộc của các công ty niêm yết tại sàn chứng khoán Việt Nam từ 2009 đến 2011 cho thấy được giá trị trung bình, giá trị lớn nhất và bé nhất của từng biến nghiên cứu, ngoài ra bài viết còn so sánh giá trị trung bình của cấu trúc vốn của ngành BĐS Việt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Nam so với các nước khác để có cái nhìn tổng quan hơn về đặc điểm cấu trúc vốn ngành bất động sản của Việt Nam.2 Phân tích tương quan Khi lựa chọn các biến trong nghiên cứu có thể xảy ra tương quan giữa các biến với nhau. Phần này, tác giả sử dụng phân tích tương quan để xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.3 Kiểm định đa công tuyến.
Để kiểm định xem 6 biến độc lập: Tổng nợ trên vốn; Tổng nợ trên vốn chủ sở hữu; Nợ trên vốn thị trường; Nợ ngắn hạn trên tổng tài sản; Nợ dài hạn trên tổng tài sản; T-biến thời gian có quan hệ tuyến lẫn nhau hay không, tác giả kiểm định các biến bằng cách phân tích hồi quy tuyến tính. Dựa vào kết quả kiểm định tác giả xem hệ số VIF lớn hơn hay nhỏ hơn 10 (Theo Hoàng Trọng & các tác giả 2008 nếu biến có giá trị VIF lớn hơn 10 thì biến đó gây ra hiện tượng cộng tuyến), biến nào lớn hơn 10 tác giả sẽ loại bỏ biến đó & kiểm định lại đến khi các biến không có hiện tượng đa cộng tuyến tác giả sẽ tiếp tục phân tích hồi quy.4 Phân tích hồi quy Trong khi phân tích tương quan kiểm tra có tồn tại mối tương quan giữa các biến hay không thì phân tích hồi quy được tác giả sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập với các biến phụ thuộc, qua đó cho biết chiều tác động cũng như thứ tự ảnh hưởng của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc. Phương pháp này sẽ cho phép tác giả đưa ra những bằng chứng xác thực để giải quyết mục tiêu của luận văn. Để đo lường mức độ tác động của tất cả các biến độc lập lên từng biến phụ thuộc: ROE, EPS, OPM, NPM.