Chương 1: Giới thiệu. Nội dung chính của chƣơng là trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và cách trình bày bài nghiên cứu. Sơ lƣợc về cấu trúc sở hữu ở Việt Nam, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam và phân tích tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu đƣa ra những vấn đề chính cần quan tâm và giải quyết khi tiến hành nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Sơ lƣợc về cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt động, các lý thuyết và tranh luận liên quan. Kết hợp với trình bày kết quả bài nghiên cứu trƣớc đây về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động trong nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó là một số nghiên cứu tiêu biểu về nền kinh tế Việt Nam mà tác giả ghi nhận đƣợc.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Mô tả phạm vi và quy mô mẫu quan sát, cách thức thu thập dữ liệu đƣợc sử dụng trong bài. Xác định phƣơng pháp tính toán các biến độc lập và phụ thuộc đƣợc sử dụng trong mô hình kiểm định và cơ sở của phƣơng pháp. Đồng thời sơ lƣợc thêm về phƣơng pháp ƣớc lƣợng cũng nhƣ các kiểm định cần thiết.
Cuối cùng là phần lập luận đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Thống kê tóm tắt số lƣợng quan sát, giá trị trung bình của các biến, hệ số tƣơng quan giữa các biến độc lập. Báo cáo các kết quả thu đƣợc từ kết quả hồi quy về tác động của sở hữu nhà nƣớc và sở hữu nƣớc ngoài tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nguyễn Trần Phúc Luận văn Thạc sỹ Chương 5: Kết luận. Tổng kết các kết quả có đƣợc từ Chƣơng 4. Đề xuất khuyến nghị về tái cấu trúc sở hữu (sở hữu nhà nƣớc và sở hữu nƣớc ngoài) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời chỉ ra điểm còn hạn chế của đề tài.
Đề xuất các hƣớng nghiên cứu có thể mở rộng dựa theo chủ đề. Nguyễn Trần Phúc Luận văn Thạc sỹ CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này, những lý luận chủ yếu về tác động của cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động đã đƣợc lý giải.1 của chƣơng trình bày tổng quan về cấu trúc sở hữu, hiệu quả hoạt động, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.2 trình bày các lý thuyết liên quan, các lý luận về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động. Phần cuối cùng xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam nhằm minh chứng thêm cho vấn đề nghiên cứu.
Tổng quan về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc sở hữu doanh nghiệp Cấu trúc vốn chủ sở hữu đƣợc hiểu là sự phân bổ vốn chủ sở hữu theo mối tƣơng quan tỷ lệ vốn chủ sở hữu đƣợc nắm giữ bởi các chủ sở hữu hay còn gọi là cổ đông. Cấu trúc vốn chủ sở hữu có ảnh hƣởng đến việc điều hành doanh nghiệp do nó tác động tới việc ra quyết định của nhà quản lý. Nhiều tác giả và tổ chức đã đƣa ra các cách phân loại khác nhau phụ thuộc vào vấn đề họ quan tâm trong cấu trúc sở hữu doanh nghiệp.
Cấu trúc sở hữu không chỉ đƣợc xác định bằng sự phân bổ số phiếu bầu và lƣợng vốn của các chủ sở hữu mà còn đƣợc phân biệt bởi danh tính của các chủ sở hữu. Jensen và cộng sự (1976) phân biệt giữa chủ sở hữu với vốn chủ sở hữu bên trong, vốn chủ sở hữu bên ngoài và nợ. Djakov (1999) cũng phân biệt sở hữu giữa ban quản lý, nhân viên, nhà nƣớc và nƣớc ngoài. Theo Repei (2000) cấu trúc sở hữu có thể đƣợc phân biệt theo mức độ tập trung quyền sở hữu cũng nhƣ danh tính của chủ sở hữu.
Cấu trúc sở hữu có thể bao gồm chủ sở hữu bên trong cũng nhƣ chủ sở hữu bên ngoài. Chủ sở hữu bên trong là ngƣời quản lý và nhân viên và chủ sở hữu bên ngoài là cá nhân, tổ chức và nhà nƣớc. Chủ sở hữu cũng có thể đƣợc phân biệt là chủ sở hữu nƣớc ngoài và chủ sở hữu trong nƣớc. Nhìn chung, có một vài cách phân loại nhƣ sau: Theo trạng thái pháp lý của chủ sở hữu 12 GVHD: TS.
Nguyễn Trần Phúc Luận văn Thạc sỹ - Chủ sở hữu là pháp nhân - Chủ sở hữu không phải là pháp nhân Theo mức độ tập trung của quyền sở hữu: - Sở hữu tập trung - Sở hữu phân tán Phân theo thành phần kinh tế - Sở hữu nhà nƣớc - Sở hữu tƣ nhân Phân theo yếu tố địa lý - Sở hữu trong nƣớc - Sở hữu nƣớc ngoài Phân theo mục tiêu kinh tế của chủ sở hữu - Vì mục tiêu cổ tức và lợi ích hiện tại - Vì mục tiêu tăng giá trị vốn đầu tƣ, giá trị cổ phiếu lâu dài Phân theo vai trò quản lý và quản tri của chủ sở hữu trong doanh nghiệp - Chủ sở hữu không tham gia quản lý và quản trị - Chủ sở hữu tham gia quản lý và quản trị Phân theo tỷ lệ nắm giữ cổ phần - Cổ đông lớn - Cổ đông thiểu số Trong phạm vi bài nghiên cứu tác giả tập trung vào nghiên cứu hai loại sở hữu chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nƣớc và sở hữu nƣớc ngoài. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 13 GVHD: TS. Nguyễn Trần Phúc Luận văn Thạc sỹ Theo Antonio, Ludger và Vito (2006) định nghĩa “hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng đầu vào cho trƣớc, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ đƣợc coi là hoạt động hiệu quả hơn”.
Trong khi đó, theo Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, Kinh tế lƣợng Anh - Việt (Nguyễn Khắc Minh, 2004), hiệu quả là “mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt đƣợc trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trƣớc”. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhìn chung là khả năng của doanh nghiệp sử dụng nguồn lực đầu vào để tạo ra các nguồn lực mới từ các hoạt động hàng ngày trong một khung thời gian nhất định. Hiệu quả hoạt động thể hiện mối quan hệ giữa nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra. Hai khía cạnh khác phải đƣợc xem xét khi cố gắng xác định hiệu quả hoạt động: khung thời gian và điểm tham chiếu của nó.
Có thể phân biệt giữa hiệu quả hoạt động trong quá khứ và tƣơng lai, hiệu quả hoạt động vƣợt trội trong quá khứ không đảm bảo rằng nó sẽ vẫn tốt hơn trong tƣơng lai (Carneiro, 2005). Một vấn đề khác liên quan đến thời gian là khoảng thời gian (ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn) đƣợc xem xét. Tham chiếu về hiệu quả hoạt động đang đƣợc đo lƣờng, ví dụ: trung bình ngành, kết quả của đối thủ cạnh tranh chính, mục tiêu đƣợc thiết lập hoặc hiệu quả trong quá khứ cũng rất quan trọng (Carneiro, Silva, Rocha và Dib, 2007). So sánh về các mục tiêu và hiệu quả trong quá khứ cho thấy hiệu quả và sự tiến bộ của công ty.
Tuy nhiên, chúng không thích hợp để so sánh các công ty khác nhau về quy mô và ngành hoạt động. Sử dụng giá trị trung bình của ngành hoặc của đối thủ cạnh tranh chính làm cơ sở cho thấy vị thế cạnh tranh của các công ty và có thể hữu ích hơn cho phân tích. Đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo Bevan (1999) tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thƣờng liên quan với tăng khả năng sinh lợi (increased profitability), hiệu quả cao hơn (higher efficiency), và tăng sản lƣợng (increased output). Trong đó, việc sử dụng các chỉ 14 GVHD: TS.
Nguyễn Trần Phúc Luận văn Thạc sỹ tiêu tài chính là rất cần thiết trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động. Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Các biện pháp phổ biến thể hiện khả năng sinh lợi bao gồm thu nhập, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên doanh thu. Những biện pháp này dựa trên thu nhập trƣớc lãi (lợi tức cho chủ sở hữu và chủ nợ), thu nhập chịu thuế hoặc thu nhập thuần (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở) tùy thuộc vào trọng tâm của một nghiên cứu cụ thể.
Đo lƣờng cho hiệu quả hoạt động dài hạn của công ty, nhiều nghiên cứu sử dụng Tobin-Q (Wei và Varela, 2003; Alfaraih và cộng sự, 2012; Yu, 2013) bởi vì chỉ số này phản ánh giá trị thị trƣờng của cổ phiếu và phản ánh đánh giá của thị trƣờng đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Tobin-Q là tỷ số của giá trị thị trƣờng của doanh nghiệp trên giá trị thay thế (replacement value) của tài sản. Trong hầu hết các trƣờng hợp Tobin-Q đƣợc tính theo tỷ lệ giữa giá trị thị trƣờng của cổ phiếu cộng với giá trị sổ sách của nợ trên giá trị sổ sách của tài sản khi giá trị thị trƣờng của nợ và giá trị thay thế của tài sản thƣờng không xác định đƣợc. Độ tin cậy của hệ số này phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của thị trƣờng chứng khoán.
Hơn nữa, nhƣ biện pháp này thƣờng đƣợc xây dựng bằng cách sử dụng giá trị sổ sách tài sản ở mẫu số, có thể dẫn tới sai lệch do không đo đƣợc tổng vốn. Nghiên cứu này sử dụng Tobin-Q là thƣớc đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đo lƣờng đựa trên giá trị kế toán đƣợc cũng sử dụng bởi vì giá cổ phiếu thị trƣờng tại các thị trƣờng mới nổi có sự bảo vệ đối với cổ đông là yếu có thể bị thiên lệch (Claessens và Djankov, 1999). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là hai phƣơng thức kế toán phổ biến đƣợc sử dụng để đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
ROA cung cấp thông tin về khoản lợi nhuận sau thuế đƣợc từ lƣợng vốn đầu tƣ, tức là cứ một đồng đầu tƣ vào tài sản tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trƣớc khi trả lãi cho chủ nợ và nộp thuế. Tài sản của doanh nghiệp đƣợc tạo ra từ nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này sử dụng tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. ROA càng cao tức là 15 GVHD: TS.