CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Phân tích tài chính là bƣớc quan trọng trong việc quản trị và điều hành doanh nghiệp, cũng là mối quan tâm của các nhà đầu tƣ, các chủ thể kinh tế. Có nhiều khái niệm, nhận định khác nhau về phân tích tài chính doanh nghiệp.
“Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phƣơng pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lƣợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp ngƣời sử dụng thông tin đƣa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp” [6]. “Phân tích tài chính là việc ứng dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích đối với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đƣa ra các dự báo và các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích tài chính còn là việc sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một doanh nghiệp và từ đó đánh giá và dự báo năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tƣơng lai” [9]. Những khái niệm trên tuy có điểm khác biệt nhƣng đều có điểm chung khi đề cập đến vấn đề phân tích tài chính dựa trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, từ đó phân tích các chỉ tiêu tài chính, các phƣơng pháp, xử lý các thông tin thu thập, từ đó đƣa ra nhận định về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp ngƣời sử dụng thông tin đƣa ra những quyết định tài chính phù 7 hợp, hiệu quả.
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sản tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là về khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng nhƣ khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, họ tiếp tục nghiên cứu và đƣa ra dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tƣơng lai. Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính, đó là một trong các hƣớng dự đoán doanh nghiệp. Mục đích Các hoạt động TCDN hƣớng vào kết quả thực hiện các mục tiêu, kế hoạch ban đầu đặt ra hoặc kết quả đã đạt đƣợc ở kỳ trƣớc, xác định kết quả có đạt đƣợc trong tƣơng lai hay không.
Để trở thành một công cụ đắc lực cho các nhà quản trị và các đối tƣợng quan tâm đến hoạt động của DN có quyết định đúng đắn trong kinh doanh, phân tích TCDN cần đạt những mục đích sau: - Đánh giá chính xác tình hình TCDN trên nhiều khía cạnh nhƣ cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lãi, rủi ro tài chính… để đáp ứng thông tin tài chính cho những đối tƣợng quan tâm đến hoạt động của DN nhƣ các nhà đầu tƣ, nhà quản trị, cơ quan thuế hay ngƣời lao động… - Định hƣớng tới quyết định của đối tƣợng quan tâm theo hƣớng phù hợp với thực trạng của DN nhƣ quyết định đầu tƣ tài trợ, phân chia lợi nhuận… - Là cơ sở cho các dự báo tài chính, giúp ngƣời phân tích dự đoán đƣợc tiềm năng tài chính của DN trong tƣơng lai. - Là công cụ để kiểm soát hoạt động kinh doanh dựa vào kiểm tra, đánh giá các chỉ tiêu kết quả đạt đƣợc so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán…và từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh, giúp DN có quyết định và giải pháp đúng đắn để kinh doanh mang lại hiệu quả cao. Vai trò 8 Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng khi lựa chọn lĩnh vực hoạt động kinh doanh trƣớc pháp luật nên có nhiều đối tƣợng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Dựa vào mục đích của mình, với từng đối tƣợng khác nhau sẽ sử dụng các thông tin tài chính khác nhau [7]: 1.
Đối với người quản lý doanh nghiệp Đối với họ, sẽ thƣờng quan tâm đến tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Khi bị lỗ liên tục doanh nghiệp sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt khác, khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động. Nhà quản trị sẽ dùng kết quả hoạt động phân tích tài chính cho những mục đích sau: Thứ nhất, phân tích tài chính tạo ra chu kỳ đánh giá đều đặn về hoạt động SXKD trong quá khứ, qua đó đánh giá hiệu quả hoạt động, khả năng cân đối vốn, khả năng sinh lãi cũng nhƣ mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
Thứ hai, sử dụng nó làm công cụ kiểm soát các hoạt động quản lý, tiếp thêm thông tin cho các quyết định của ban lãnh đạo, giám đốc tài chính về các hoạt động đầu tƣ, tài trợ, chia cổ tức, lập kế hoạch dự báo tài chính. Thứ ba, kết quả của hoạt động phân tích tài chính là cơ sở cho các dự báo tài chính nhƣ dự báo hoạt động kinh doanh các năm tới, kế hoạch đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh. Đối với các nhà đầu tư Mục tiêu chính của các nhà đầu tƣ là gia tăng giá trị tài sản vì khi họ đã giao số vốn của mình cho doanh nghiệp thì đƣơng nhiên việc xác định rủi ro là điều họ quan tâm trong quá trình đầu tƣ. Đối với các nhà đầu tƣ, họ còn quan tâm đến thời gian hoàn lại vốn, khả năng sinh lãi nên họ cần biết các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trƣởng của các doanh nghiệp.
9 Trong doanh nghiệp cổ phần, cổ đông là ngƣời rót vốn đầu tƣ vào doanh nghiệp và họ có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro. Những rủi ro này liên quan tới việc giảm giá cổ phiếu trên thị trƣờng, gây nguy cơ phá sản của DN. Chính vì vậy, quyết định của họ đƣa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi ro và mức sinh lãi đạt đƣợc. Vì vậy, họ đặt mối quan tâm hàng đầu là khả năng tăng trƣởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trong DN.
Trên cơ sở phân tích các thông tin về thực tế hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tƣ sẽ đánh giá đƣợc khả năng sinh lãi và triển vọng phát triển của DN để đƣa ra những quyết định phù hợp. Các nhà đầu tƣ sẽ chỉ chấp nhận đầu tƣ vào một dự án nếu ít nhất có một điều kiện là giá trị hiện tại ròng của nó dƣơng. Khi đó lƣợng tiền của dự án tạo ra sẽ lớn hơn lƣợng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầu cho nhà đầu tƣ. Số tiền vƣợt quá đó mang lại sự giàu có cho những ngƣời sở hữu DN.
Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồn tài trợ của DN cũng là vấn đề đƣợc các nhà đầu tƣ hết sức coi trọng vì nó tác động trực tiếp đến thu nhập của họ. Thu nhập của cổ đông bao gồm phần cổ tức đƣợc chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm của cổ phiếu trên thị trƣờng. Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và VCSH hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp DN tăng vốn đầu tƣ vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Hơn nữa cổ đông chỉ chấp nhận đầu tƣ mở rộng quy mô DN khi quyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hƣởng.
Do vậy, các yếu tố nhƣ tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm trƣớc, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trƣờng và tính ổn định của thị giá cổ phiếu DN cũng nhƣ hiệu quả của việc tái đầu tƣ luôn đƣợc các nhà đầu tƣ xem xét trƣớc tiên khi thực hiện phân tích tài chính. Đối với các chủ nợ Các chủ nợ thƣờng quan tâm đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do 10 vậy, họ sẽ chú ý đến số lƣợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền để so sánh với số nợ ngắn hạn từ đó biết đƣợc khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số VCSH vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trƣờng hợp doanh nghiệp gặp rủi ro.
Vậy việc phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của khoản nợ, nhƣng dù là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì ngƣời cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay. Đối với người lao động Ngƣời lao động cũng là một trong những đối tƣợng rất quan tâm tới các thông tin TCDN. Ai cũng biết kết quả hoạt động của DN có tác động trực tiếp đến tài chính của ngƣời lao động, cụ thể là tiền lƣơng, nguồn thu nhập chính của ngƣời lao động. Ngoài ra, trong một số DN, ngƣời lao động đƣợc tham gia góp vốn mua một lƣợng cổ phần nhất định.
Khi đó họ cũng là những cổ đông của DN nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với nó. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước Dựa vào thông tin báo cáo TCDN, các cơ quan quản lý của Nhà nƣớc sẽ tìm hiểu, thực hiện phân tích tình hình tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, tình hình hạch toán chi phí, giá thành. có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và tuân thủ đúng luật pháp quy định không. Tóm lại, phân tích hoạt động TCDN thông qua hệ thống các phƣơng pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp ngƣời sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động TCDN, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đƣa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ 11 và đầu tƣ phù hợp.
THÔNG TIN PHỤC VỤ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.