Mở đầu Chương 2: Lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu 4 CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM. Các lý thuyết liên quan về tác động của các nhân tố vĩ mô đến giá chứng khoán Việt Nam 2. Tác động của Lạm phát đến giá chứng khoán Lạm phát cao có nghĩa là giá cả hàng hóa tăng lên, vậy giá cổ phiếu có thực sự tăng lên không? Xét về mặt logic của các nguyên lý kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm từ thị trường chứng khoán tại các nước phát triển thì câu trả lời là không.
Lạm phát và giá cổ phiếu có mối liên quan hệ tỉ lệ nghịch. Lạm phát tăng cao luôn là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững, và TTCK như chiếc nhiệt kế đo sức khỏe nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi tiền trong ngân hàng bởi lẽ mức lãi suất danh nghĩa của tiền gửi thấp hơn tỉ lệ lạm phát. Họ chuyển sang các kênh đầu tư khác như: dữ trự vàng, ngoại tệ mạnh, bất động sản,.
điều này gây ra hiện tượng một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm im dưới dạng tài sản chết. Thiếu vốn đầu tư, không tích lũy để mở rộng sản xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung sẽ chậm lại. Khả năng thu lợi nhuận của Doanh nghiệp bị hạ thấp khiến giá cổ phiếu suy giảm. Và ngược lại, khi Lạm phát hạ thấp thì giá cổ phiếu càng có xu hướng tăng lên sẽ được tăng lên Như vậy, Giá cổ phiếu sẽ có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển tốt và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút.
Và nếu chúng ta có thể dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK. Và việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh hưởng của nó đến giá chứng khoán cũng rất quan trọng đến các nhà đầu tư 2. Tác động của GDP đến giá chứng khoán Đối với các nhà đầu tư chứng khoán, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm là rất quan trọng, nếu tổng sản lượng kinh tế đang suy giảm hoặc chỉ đơn thuần là giữ ổn định, thì hầu hết các doanh nghiệp sẽ không thể tăng lợi nhuận, đây là yếu tố tác 5 động (tác nhân) chính của hoạt động chứng khoán. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP quá nhiều cũng sẽ là nguy hiểm vì nó có thể đi kèm với sự gia tăng của lạm phát mà làm hao mòn dần tiền lãi, làm giảm lợi nhuận của thị trường chứng khoán bằng cách làm cho tiền của chúng ta (và lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai) dần mất giá trị.
Hầu hết các nhà kinh tế ngày nay đều đồng ý rằng sự tăng trưởng GDP 2.5% mỗi năm là tốt nhất mà nền kinh tế có thể duy trì một cách an toàn và không gây ra những tác dụng phụ tiêu cực nào. Theo thời gian, sự tăng trưởng GDP là nguyên nhân gây ra lạm phát, và lạm phát lại dần sinh ra siêu lạm phát. Điều này là bởi vì khi lạm phát đang gia tăng, người dân sẽ chi tiêu nhiều hơn bởi họ nghĩ rằng đồng tiền sẽ bị mất giá trong tương lai. Chính điều này lại làm tăng GDP trong ngắn hạn và cứ thế giá lại tiếp tục tăng lên.
Tác động của Tỷ giá hối đoái tới giá chứng khoán Chính phủ các nước ngoài việc thực hiện các chính sách tài khóa, tiền tệ để kiểm soát nền kinh tế, họ còn cố gắng tác động đến giá trị của đồng nội tệ nhằm cải thiện nền kinh tế, hạ giá đồng nội tệ trong vài trường hợp và tăng giá chúng trong một số trường hợp khác. Về cơ bản, tỷ giá hối đoái trở thành công cụ, giống như các luật lệ về thuế và mức cung tiền, qua đó có thể giúp chính phủ đạt được các mục tiêu kinh tế mong muốn (GS.TS Trần Ngọc Thơ và cộng sự, Tài chính Quốc tế, 2008) Đối với người nắm giữ cổ phiếu, khi họ dự đoán được đồng nội tệ có xu hướng giảm giá, họ sẽ không muốn giữ cổ phiếu vì yêu cầu của họ là một tỷ suất sinh lợi cao hơn để bù đắp rủi ro lạm phát. Hệ quả có thể là một lượng cung cổ phiếu tung ra thị trường ngay lập tức làm cổ phiếu thêm giảm giá và ngược lại. Ngoài ra, trên thị trường luôn thường trực một số lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài tham gia như là cơ hội để tìm kiếm lợi nhuận từ đầu tư tiền tệ.
Họ sẽ tích cực mua cổ phiếu vào khi đồng nội tệ yếu đi và rồi bán ra các cổ phiếu này khi đồng nội tệ mạnh lên. Mức cầu của nhà đầu tư nước ngoài với cổ phiếu sẽ cao hơn khi đồng 6 nội tệ dự kiến tăng giá (trong trường hợp các điều kiện khác ổn định). Tuy nhiên, khi đồng nội tệ giảm giá và có xu hướng giảm tiếp trong tương lai sẽ cản trở dòng vốn đầu tư từ nước ngoài do những rủi ro tỷ giá mang lại cho họ. Như vậy, việc đồng nội tệ mạnh lên hay yếu đi có thể tác động đồng biến hoặc nghịch biến đối với giá chứng khoán, chỉ số TTCK, tất cả tùy thuộc vào đặc thù nền kinh tế và các công ty niêm yết.
Một thị trường với nhiều công ty niêm yết có nguồn thu từ xuất khẩu và chiếm tỷ trọng lớn dường như sẽ có một kết quả tốt khi đồng nội tệ yếu đi và ngược lại; bên cạnh đó, việc đồng nội tệ tăng lên hay giảm xuống cũng sẽ tác động đến dòng tiền chảy vào thị trường và tác động hoặc tiêu cực hoặc tích cực đến tình hình kinh tế nói chung theo từng quốc gia. Tác động của Lãi suất đến giá chứng khoán Mức lãi suất có lẽ là yếu tố kinh tế vĩ mô quan trong nhất cần xem xét trong phân tích đầu tư. Lãi suất thực chất không có gì khác hơn ngoài chi phí mà một người phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Ta xét tác động của lãi suất tới giá chứng khoán dựa trên 2 nhóm đối tượng: Đối với nhà đầu tư Như chúng ta đã biết, giá cổ phiếu được thị trường mà cụ thể là các nhà đầu tư định giá dựa trên cơ sở cổ tức và tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi của họ.
Ta hãy xem xét một mô hình định giá cổ phiếu đơn giản như sau: Trong đó: V là giá cổ phiếu; Dt là cổ tức được chia ở thời kỳ t và ke là tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi của nhà đầu tư. Trường hợp lãi suất tăng, có nghĩa là chi phí cơ hội của nhà đầu tư bỏ tiền mua cổ phiếu tăng hay nói cách khác là lợi nhuận phi rủi ro tăng (bằng tỷ lệ lãi suất tiền gửi hoặc lãi suất trái phiếu chính phủ), điều này làm tăng mức tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư khi bỏ tiền mua cổ phiếu (ke tăng). Như vậy, giá chứng 7 khoán sẽ phải giảm xuống (ở đây chúng ta chưa tính đến Dt có thể giảm khi lãi suất tăng). Ở một khía cạnh khác, khi lãi suất tăng sẽ có một lượng lớn dòng tiền của nhà đầu tư chạy khỏi thị trường chứng khoán để tìm kiếm mức tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cao tương đối từ việc mua trái phiếu chính phủ hoặc gửi tiền ngân hàng.
Và ngược lại, khi lãi suất giảm sẽ làm giá cổ phiếu tăng lên. Đối với doanh nghiệp niêm yết Giả định rằng lãi suất chính là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, khi lãi suất tăng thì chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng theo. Khi đó, doanh nghiệp hoặc sẽ là cắt giảm, hạn chế các khoản đầu tư tăng trưởng hoặc là chấp nhận một mức chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên và như vậy lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, dòng tiền trong tương lai cũng sẽ giảm đi. Do đó, giá trị của doanh nghiệp sẽ giảm theo và hệ quả là giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ đi xuống.
Ramin Cooper và cộng sự (2004) cũng giả thuyết về một mối tương quan nghịch giữa lãi suất và giá cổ phiếu, nó dựa trên sự lý giải như sau: (1) lãi suất có thể tác động tới mức lợi nhuận của bản thân doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng tới mức giá cổ phiếu khi các nhà đầu tư sẵn sàng chi trả để có được cổ phiếu do kỳ vọng ở mức cổ tức cao hơn trong tương lai. Hầu hết các doanh nghiệp bỏ vốn cho các trang thiết bị, tài sản, hàng tồn kho thông qua việc sử dụng nguồn vốn vay. Sự sụt giảm của lãi suất sẽ kéo theo chi phí sử dụng vốn giảm và như vậy nó khuyến khích việc mở rộng quy mô phát triển. Chính nó tạo ra một tác động thuận chiều với tỷ suất lợi nhuận dự tính trong tương lai của doanh nghiệp; (2) khi có một lượng lớn cổ phiếu được mua bởi vốn vay, đương nhiên nếu có một sự tăng lên của lãi suất sẽ làm cho chi phí cơ hội của giao dịch cổ phiếu đắt đỏ hơn.
Các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn trước khi họ tiến hành đầu tư. Như vậy sẽ làm giảm mức cầu cổ phiếu xuống và dẫn tới mức giá bị sụt giảm. John Murphy trong cuốn sách “Phân tích kỹ thuật của thị trường tài chính”. Khi thị trường tăng lãi suất, các nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một tỷ lệ sinh lời kỳ vọng tăng, giá triết khấu trái phiếu sụt giảm, và khi tỷ lệ triết khấu trái phiếu cao thì hiện 8 giá của trái phiếu giảm.
Vậy điều gì đã khiến giá trái phiếu sụt giảm, và giá trái phiếu bị tác động bởì các nhân tố nào, có phải chăng một phần là do tốc độ tăng lạm phát? Khi Mức lạm phát kỳ vọng tăng, nó sẽ tạo ra nên một áp lực lên lãi suất và lợi tức trái phiếu. Nghiên cứu thực nghiệm tại một số nước trên thế giới về tác động của các nhân tố vĩ mô đến giá chứng khoán 2. Một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã nghiên cứu và nhận định mối tương quan giữa lạm phát và giá chứng khoán.