CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK 1. Các nghiên cứu nước ngoài TTCK bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vi mô hay vĩ mô nào là một đề tài được khá nhiều các nhà nghiên cứu vả cả các nhà đầu tư quan tâm, do đó, trên thế giới đã có rất nhiều các bài nghiên cứu về đề tài này, đặc biệt là các nghiên cứu về các nhân tố kinh tế vĩ mô: Nghiên cứu của Yu Hsing (2014) về mối liên hệ giữa chỉ TTCK Estonia và các biến số kinh tế vĩ mô có liên quan và một vài trọng tâm trong giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 năm 2013. Bài viết sử dụng mô hình GARCH để kiểm tra các ước tính nhất quán và không thiên vị, theo đó, khoảng 93,6% thay đổi của chỉ số TTCK Estonia được gây ra bởi các biến trong bài.
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm mô hình ADF để kiểm tra xem các kết quả hồi quy ở trên có thể là giả hay không và kết luận kết quả mô hình không phải là giả và các biến chuỗi thời gian này có một mối quan hệ ổn định lâu dài. Kết quả bài viết cho thấy rằng, tỷ lệ nợ/GDP cao hơn, đồng tiền của Estonia tăng, sản lượng lương thực cao hơn, lãi suất trong nước thấp hơn, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng thấp hơn, chỉ số TTCK Đức cao hơn hoặc lãi suất trái phiếu CP khu vực đồng euro thấp hơn sẽ làm tăng chỉ số TTCK Estonia. GDP thực tế có tác động phần trăm lớn nhất trong khi lãi suất trái phiếu Chính phủ trong khu vực các nước sử dụng đồng euro có tác động nhỏ nhất. Bài nghiên cứu “The Effects of Macroeconomic Factors on the Performance of Stock Market in Sri Lanka” của Shohani Upeksha Badullahewage (2015) với mục tiêu chính là phân tích ảnh hưởng sống còn của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến hoạt động của TTCK ở Sri Lanka, cụ thể là chỉ số All Share Price Index (ASPI).
Tất cả các yếu tố có tác động trực tiếp đến hoạt động của TTCK mới nổi đã được đưa ra như Lạm phát (đại diện là chỉ số giá tiêu dùng của Colombo), Lãi suất, TGHĐ, tổng sản phẩm quốc nội và cung tiền, nguồn dữ liệu thứ cấp được thống kê hàng tháng trong giai đoạn 1990- 2012. Tác giả đã chỉ ra rằng tất cả các yếu tố này có tác động không thể tách rời đối với biến động của TTCK, nếu các yếu tố như lãi suất, TGHĐ và GDP tăng lên, thì nó 5 có xu hướng dẫn đến hiệu suất tốt hơn của CPI và ASPI. Ngoài ra, tỷ lệ lạm phát nên ở mức tối thiểu nhất có thể để có hiệu suất tốt hơn trên TTCK. Nghiên cứu của Aigbovo và Izekor (2015) điều tra tác động của sáu biến số kinh tế vĩ mô, cụ thể là TGHĐ, lạm phát, cung tiền, lãi suất, chỉ số sản xuất công nghiệp và giá dầu quốc tế đối với chỉ số TTCK ở Nigeria (ASI).
Thời gian nghiên cứu trong 10 năm từ 2000-2010 và bài nghiên cứu sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF), chuỗi cơ bản được thử nghiệm là không có tính dừng. Việc áp dụng thử nghiệm hợp nhất Johansen, chỉ ra rằng các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số TTCK được hợp nhất. Điều này chỉ ra rằng tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa các biến số kinh tế vĩ mô được chỉ định và chỉ số TTCK ở Nigeria. Mô hình hồi quy đa biến (OLS) và Mô hình sửa lỗi (ECM) cũng cho thấy rằng tất cả các biến trừ TGHĐ đều ảnh hưởng đến chỉ số TTCK.
Thử nghiệm kiểm định nhân quả Granger cho thấy cả mối quan hệ hai chiều về chỉ số TTCK và giá dầu quốc tế, giữa ASI và cung tiền. Thay đổi trong các biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế của một quốc gia là rất quan trọng và bất kỳ thay đổi đột ngột giữa các biến này đều có tác động đến nền kinh tế và đặc biệt là tới chỉ số TTCK. Do đó, Hunija và cộng sự (2015) đã có bài nghiên cứu để xác định tác động của 4 yếu tố lãi suất, TGHĐ, lạm phát và GDP đối với giá cổ phiếu ở Pakistan, mà cụ thể là chỉ số KSE 100. Dữ liệu hàng tháng của mười một năm từ 2001 đến 2011 đã được sử dụng cho nghiên cứu này.
Phương pháp: Thử nghiệm Granger được áp dụng trên dữ liệu để ước tính tác động có thể có của các biến kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu. Kết quả: Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng các biến không giải thích được biến động của chỉ số KSE 100 trong ngắn hạn. Tuy nhiên, kết quả thể hiện rằng có mối quan hệ mạnh mẽ trong dài hạn. TGHĐ có liên quan tiêu cực đến chỉ số KSE 100.
Việc giảm giá cổ phiếu xảy ra khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tiền vào cổ phiếu và thu nhập của họ giảm khi tỷ giá tăng. Bên cạnh đó, lãi suất, GDP và lạm phát cũng đều có kết quả tiêu cực tới thị giá cổ phiếu. Khi các NĐTNN muốn đầu tư nhiều tiền hơn vào chứng khoán, họ vay từ các tổ chức tín dụng, lãi suất được tính cao do lãi suất cao, nhà đầu tư không muốn đầu tư vào SGDCK này. 6 Emon Kalyan Chowdhury (2017) đã có bài nghiên cứu nhằm tìm tác động của các yếu tố tỷ lệ lạm phát, phí bảo hiểm rủi ro thất nghiệp, cung tiền, lãi suất và TGHĐ đối với lợi nhuận của các CTNY trên SGDCK Chittagong (Bangladesh).
Lý thuyết định giá Arbitrage (APT) đã được tác giả sử dụng để xem xét dữ liệu hàng tháng của các yếu tố khác nhau từ năm 2005 đến 2014. Thống kê Durbin Watson được áp dụng để kiểm tra bản chất tương quan giữa các chuỗi dữ liệu. Phương pháp Least Square thông thường được áp dụng và nó tìm thấy mối liên kết đáng kể về giá giữa các biến được lựa chọn và lợi nhuận chứng khoán. Theo kết quả của bài nghiên cứu, lãi suất, phí bảo hiểm rủi ro, lạm phát, cung tiền và tỷ lệ thất nghiệp có mối tương quan tích cực trong khi chỉ có TGHĐ là có tác động ngược chiều.
Amith Vikram Megaravalli (2018) đã có bài viết xem xét mối liên hệ trong cả ngắn hạn và dài hạn giữa Ấn Độ, Trung Quốc và TTCK Nhật Bản và các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng như TGHĐ và lạm phát (được chỉ định bởi chỉ số giá tiêu dùng) của các nền kinh tế ASIAN 3 (Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản). Dữ liệu chuỗi thời tính theo tháng kéo dài trong giai đoạn từ T1/2008 đến T11/2016 với 107 mẫu đã được sử dụng. Bài viết này cũng sử dụng thử nghiệm Granger và hợp nhất Johansen để xác định xem các biến được chọn có được hợp nhất (do đó có thể liên quan đến quan hệ nhân quả) với 3 sàn chứng khoán Ấn Độ (Sàn chứng khoán Nifty), Trung Quốc (Sàn chứng khoán Thượng Hải) và Nhật Bản (Sàn chứng khoán Nikkei) hay không. Hơn nữa, bài viết sử dụng công cụ ước tính PMG (nhóm trung bình gộp) để điều tra sự bất cân xứng có thể có giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK trong 3 nước.
Tính dừng (stationary) của số liệu nghiên cứu được kiểm tra bằng thử nghiệm ADF do Dickey và Fuller (1981) đề xuất. Kết quả ước tính gộp của các nước ASIAN 3 cho thấy TGHĐ có tác động tích cực và lâu dài đối với TTCK trong khi lạm phát có tác động dài hạn tiêu cực và không đáng kể. Theo thử nghiệm kiểm tra quan hệ nhân quả Granger, mối quan hệ hai chiều được tìm thấy giữa sàn Nifty của Ấn Độ và TGHĐ, trong khi sàn Nikkei Nhật Bản và TGHĐ chỉ có mối quan hệ một chiều. Kết quả của VECM cho thấy biến động của giá cổ phiếu tại sàn Nikkei ngược chiều với lạm phát trong khi có mối quan hệ cùng chiều với TGHĐ.
Jawad Khan (2018) đã có bài nghiên cứu xác định ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô khác nhau đến giá cổ phiếu của Pakistan bằng cách phân tích dữ liệu 7 theo tháng từ T5/2000 đến T8/2016. Vì tất cả các biến số đều dừng ở bậc đầu tiên, do đó phương pháp thử nghiệm ràng buộc ARDL lý tưởng được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ trong cả ngắn hạn và cả dài hạn của các biến trên giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, thử nghiệm Phillips-Perron cũng được áp dụng cùng với thử nghiệm ADF để kiểm nghiệm đơn vị gốc của các biến với lựa chọn Newey-West. Các thử nghiệm đã cho thấy kết quả rằng, tất cả các biến đều không có tính dừng ở cấp độ và có tính dừng tại điểm khác biệt đầu tiên.
Kết quả cho thấy giá cổ phiếu của SGDCK Karachi trong dài hạn bị ảnh hưởng đáng kể bởi cung tiền, tỷ giá và lãi suất. Cung tiền có tác động tích cực khá lớn đến giá cổ phiếu, do đó việc mở rộng cung tiền hoặc CSTT lỏng lẻo khiến giá cổ phiếu tăng, và ngược lại, CSTT nghiêm ngặt dẫn đến giảm giá cổ phiếu. Trong ngắn hạn, tất cả các biến trong mô hình đều không đáng kể ngoại trừ TGHĐ có ảnh hưởng tiêu cực với giá cổ phiếu. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013) đã phân tích mối quan hệ của 4 biến vĩ mô là: TGHĐ VND/USD, CPI (đo lường lạm phát), cung tiền M2, giá vàng trong nước đến sự biến động của TTCK Việt Nam, mà cụ thể là qua VN-Index.
Dữ liệu được thống kê theo tháng trong giai đoạn 2004 - 2011. Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định ADF trên bộ dữ liệu chuỗi thời gian để xác định tính dừng, sau đó, tác giả kiểm định đồng tích hợp (Cointegrated Test) bằng phương pháp của Johansen và Juselius để xem liệu có tồn tại mối liên hệ giữa các biến trong dài hạn. Kết quả từ các mô hình và kiểm định cho thấy: “Trong dài hạn, VN-Index biến động tích cực với các biến cung tiền M2 và giá vàng trong nước trong khi chỉ số này biến động tiêu cực với lạm phát và chỉ số giá chứng khoán không có mối liên hệ nào với tỷ giá hối đoái”. VN-Index có mối quan hệ ngược chiều với TGHĐ trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn thì 2 biến này không có sự ảnh hưởng.
Trương Đông Lộc (2014) đã có bài nghiên cứu về đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá của cổ phiếu: các bằng chứng từ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”. Các biến được nghiên cứu trong bài bao gồm cả các nhân tố vi mô và các nhân tố vĩ mô.