Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô Đến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Giai Đoạn 2014 - 2019

Khóa luận phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vi mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014-2019, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

0.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

0.3. Đối tượng nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của bài khóa luận

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán

1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.1.3. Khoảng trống các nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán

2.2. Khái niệm và phân loại thị trường chứng khoán

2.3. Chức năng của thị trường chứng khoán

2.4. Đặc điểm của thị trường chứng khoán

2.5. Các nhân tố tác động đến thị trường chứng khoán

2.5.1. Các nhân tố tự thân của thị trường chứng khoán

2.5.2. Các nhân tố vi mô

2.5.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô

2.5.4. Các nhân tố khác

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 – 2019 VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014 – 2019

3.2. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam

3.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động tới thị trường chứng khoán Việt Nam

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Lựa chọn mô hình

3.4.2. Xây dựng mô hình

3.4.3. Lựa chọn các biến

3.4.4. Xây dựng các biến trong mô hình

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả tổng quan số liệu nghiên cứu

4.2. Kết quả mô hình hồi quy

4.2.1. Kiểm định tự tương quan (Correlation)

4.2.2. Kiểm tra phương sai sai số thay đổi

4.2.3. Kiểm tra đa cộng tuyến

4.2.4. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (OLS)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Tóm tắt kết quả định lượng: ảnh hưởng của từng yếu tố vĩ mô tới chỉ số chứng khoán

5.2. Mức độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

5.3. Cơ chế tỷ giá cần linh hoạt và tránh những cú sốc thay đổi đột ngột

5.4. Kiểm soát tình hình lạm phát

5.5. Kiểm soát thị trường vàng

5.6. Giảm thiểu ảnh hưởng của giá dầu quốc tế đến giá dầu trong nước

5.7. Hoàn thiện cấu trúc vi mô của thị trường chứng khoán Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Kinh Tế Vĩ Mô Đến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK) đã trải qua nhiều biến động trong giai đoạn 2014 - 2019. Các nhân tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất đã có ảnh hưởng sâu sắc đến chỉ số chứng khoán. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố này và sự biến động của TTCK, từ đó đưa ra những nhận định và khuyến nghị cho các nhà đầu tư.

1.1. Tác Động Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán

Lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến TTCK. Khi lạm phát tăng, sức mua của người tiêu dùng giảm, dẫn đến doanh thu của các công ty giảm sút. Điều này có thể làm giảm giá cổ phiếu và chỉ số chứng khoán. Nghiên cứu cho thấy rằng lạm phát có mối quan hệ ngược chiều với chỉ số VN-Index.

1.2. Tỷ Giá Hối Đoái Và Ảnh Hưởng Đến Chỉ Số Chứng Khoán

Tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định giá trị cổ phiếu. Khi tỷ giá USD/VND tăng, chi phí nhập khẩu tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ giá hối đoái có tác động tiêu cực đến TTCK, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Của Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

TTCK Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động. Các nhân tố kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa và tiền tệ của Chính phủ có thể tạo ra những cú sốc lớn cho thị trường. Việc hiểu rõ các vấn đề này là cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Thách Thức Từ Chính Sách Tài Khóa

Chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến dòng tiền vào TTCK. Khi Chính phủ tăng thuế hoặc cắt giảm chi tiêu, điều này có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và dẫn đến sự sụt giảm của chỉ số chứng khoán.

2.2. Ảnh Hưởng Của Biến Động Kinh Tế Toàn Cầu

Biến động kinh tế toàn cầu, như cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, có thể tác động mạnh đến TTCK Việt Nam. Những thay đổi trong chính sách thương mại có thể làm giảm dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường, ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK. Dữ liệu được thu thập từ các nguồn chính thống và phân tích bằng phần mềm Stata để đưa ra kết quả chính xác.

3.1. Mô Hình Hồi Quy Đa Biến

Mô hình hồi quy đa biến OLS được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và chỉ số chứng khoán. Các biến như lạm phát, tỷ giá hối đoái, và lãi suất được đưa vào mô hình để phân tích.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Và Kiểm Định

Dữ liệu được kiểm định tính dừng và đồng tích hợp để đảm bảo tính chính xác của mô hình. Các kiểm định như ADF và Johansen được áp dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố kinh tế vĩ mô có tác động đáng kể đến chỉ số chứng khoán. Cụ thể, lạm phát và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ tiêu cực với chỉ số VN-Index, trong khi lãi suất có tác động tích cực trong một số trường hợp.

4.1. Tác Động Của Lạm Phát Đến Chỉ Số VN Index

Kết quả cho thấy rằng lạm phát có tác động tiêu cực đến chỉ số VN-Index. Khi lạm phát tăng, giá cổ phiếu có xu hướng giảm, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư.

4.2. Tỷ Giá Hối Đoái Và Chỉ Số Chứng Khoán

Tỷ giá hối đoái cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực với chỉ số chứng khoán. Khi tỷ giá tăng, chi phí sản xuất tăng, dẫn đến giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và giá cổ phiếu.

V. Kết Luận Và Khuyến Nghị Về Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến TTCK Việt Nam. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường, cần có các chính sách hợp lý từ Chính phủ và các cơ quan quản lý.

5.1. Khuyến Nghị Chính Sách Tài Khóa

Chính phủ cần xem xét các chính sách tài khóa để tạo điều kiện thuận lợi cho TTCK phát triển. Việc giảm thuế và tăng chi tiêu công có thể kích thích đầu tư vào thị trường.

5.2. Tăng Cường Quản Lý Tỷ Giá Hối Đoái

Cần có các biện pháp quản lý tỷ giá hối đoái hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực đến TTCK. Việc duy trì tỷ giá ổn định sẽ giúp tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp tài chính tác động của các nhân tố kinh tế vi mô tới thị trường chứng khoán việt nam giai đoạn 2014 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK 1. Các nghiên cứu nước ngoài TTCK bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế vi mô hay vĩ mô nào là một đề tài được khá nhiều các nhà nghiên cứu vả cả các nhà đầu tư quan tâm, do đó, trên thế giới đã có rất nhiều các bài nghiên cứu về đề tài này, đặc biệt là các nghiên cứu về các nhân tố kinh tế vĩ mô: Nghiên cứu của Yu Hsing (2014) về mối liên hệ giữa chỉ TTCK Estonia và các biến số kinh tế vĩ mô có liên quan và một vài trọng tâm trong giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 3 năm 2013. Bài viết sử dụng mô hình GARCH để kiểm tra các ước tính nhất quán và không thiên vị, theo đó, khoảng 93,6% thay đổi của chỉ số TTCK Estonia được gây ra bởi các biến trong bài.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm mô hình ADF để kiểm tra xem các kết quả hồi quy ở trên có thể là giả hay không và kết luận kết quả mô hình không phải là giả và các biến chuỗi thời gian này có một mối quan hệ ổn định lâu dài. Kết quả bài viết cho thấy rằng, tỷ lệ nợ/GDP cao hơn, đồng tiền của Estonia tăng, sản lượng lương thực cao hơn, lãi suất trong nước thấp hơn, tỷ lệ lạm phát kỳ vọng thấp hơn, chỉ số TTCK Đức cao hơn hoặc lãi suất trái phiếu CP khu vực đồng euro thấp hơn sẽ làm tăng chỉ số TTCK Estonia. GDP thực tế có tác động phần trăm lớn nhất trong khi lãi suất trái phiếu Chính phủ trong khu vực các nước sử dụng đồng euro có tác động nhỏ nhất. Bài nghiên cứu “The Effects of Macroeconomic Factors on the Performance of Stock Market in Sri Lanka” của Shohani Upeksha Badullahewage (2015) với mục tiêu chính là phân tích ảnh hưởng sống còn của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến hoạt động của TTCK ở Sri Lanka, cụ thể là chỉ số All Share Price Index (ASPI).

Tất cả các yếu tố có tác động trực tiếp đến hoạt động của TTCK mới nổi đã được đưa ra như Lạm phát (đại diện là chỉ số giá tiêu dùng của Colombo), Lãi suất, TGHĐ, tổng sản phẩm quốc nội và cung tiền, nguồn dữ liệu thứ cấp được thống kê hàng tháng trong giai đoạn 1990- 2012. Tác giả đã chỉ ra rằng tất cả các yếu tố này có tác động không thể tách rời đối với biến động của TTCK, nếu các yếu tố như lãi suất, TGHĐ và GDP tăng lên, thì nó 5 có xu hướng dẫn đến hiệu suất tốt hơn của CPI và ASPI. Ngoài ra, tỷ lệ lạm phát nên ở mức tối thiểu nhất có thể để có hiệu suất tốt hơn trên TTCK. Nghiên cứu của Aigbovo và Izekor (2015) điều tra tác động của sáu biến số kinh tế vĩ mô, cụ thể là TGHĐ, lạm phát, cung tiền, lãi suất, chỉ số sản xuất công nghiệp và giá dầu quốc tế đối với chỉ số TTCK ở Nigeria (ASI).

Thời gian nghiên cứu trong 10 năm từ 2000-2010 và bài nghiên cứu sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF), chuỗi cơ bản được thử nghiệm là không có tính dừng. Việc áp dụng thử nghiệm hợp nhất Johansen, chỉ ra rằng các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số TTCK được hợp nhất. Điều này chỉ ra rằng tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa các biến số kinh tế vĩ mô được chỉ định và chỉ số TTCK ở Nigeria. Mô hình hồi quy đa biến (OLS) và Mô hình sửa lỗi (ECM) cũng cho thấy rằng tất cả các biến trừ TGHĐ đều ảnh hưởng đến chỉ số TTCK.

Thử nghiệm kiểm định nhân quả Granger cho thấy cả mối quan hệ hai chiều về chỉ số TTCK và giá dầu quốc tế, giữa ASI và cung tiền. Thay đổi trong các biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế của một quốc gia là rất quan trọng và bất kỳ thay đổi đột ngột giữa các biến này đều có tác động đến nền kinh tế và đặc biệt là tới chỉ số TTCK. Do đó, Hunija và cộng sự (2015) đã có bài nghiên cứu để xác định tác động của 4 yếu tố lãi suất, TGHĐ, lạm phát và GDP đối với giá cổ phiếu ở Pakistan, mà cụ thể là chỉ số KSE 100. Dữ liệu hàng tháng của mười một năm từ 2001 đến 2011 đã được sử dụng cho nghiên cứu này.

Phương pháp: Thử nghiệm Granger được áp dụng trên dữ liệu để ước tính tác động có thể có của các biến kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu. Kết quả: Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng các biến không giải thích được biến động của chỉ số KSE 100 trong ngắn hạn. Tuy nhiên, kết quả thể hiện rằng có mối quan hệ mạnh mẽ trong dài hạn. TGHĐ có liên quan tiêu cực đến chỉ số KSE 100.

Việc giảm giá cổ phiếu xảy ra khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tiền vào cổ phiếu và thu nhập của họ giảm khi tỷ giá tăng. Bên cạnh đó, lãi suất, GDP và lạm phát cũng đều có kết quả tiêu cực tới thị giá cổ phiếu. Khi các NĐTNN muốn đầu tư nhiều tiền hơn vào chứng khoán, họ vay từ các tổ chức tín dụng, lãi suất được tính cao do lãi suất cao, nhà đầu tư không muốn đầu tư vào SGDCK này. 6 Emon Kalyan Chowdhury (2017) đã có bài nghiên cứu nhằm tìm tác động của các yếu tố tỷ lệ lạm phát, phí bảo hiểm rủi ro thất nghiệp, cung tiền, lãi suất và TGHĐ đối với lợi nhuận của các CTNY trên SGDCK Chittagong (Bangladesh).

Lý thuyết định giá Arbitrage (APT) đã được tác giả sử dụng để xem xét dữ liệu hàng tháng của các yếu tố khác nhau từ năm 2005 đến 2014. Thống kê Durbin Watson được áp dụng để kiểm tra bản chất tương quan giữa các chuỗi dữ liệu. Phương pháp Least Square thông thường được áp dụng và nó tìm thấy mối liên kết đáng kể về giá giữa các biến được lựa chọn và lợi nhuận chứng khoán. Theo kết quả của bài nghiên cứu, lãi suất, phí bảo hiểm rủi ro, lạm phát, cung tiền và tỷ lệ thất nghiệp có mối tương quan tích cực trong khi chỉ có TGHĐ là có tác động ngược chiều.

Amith Vikram Megaravalli (2018) đã có bài viết xem xét mối liên hệ trong cả ngắn hạn và dài hạn giữa Ấn Độ, Trung Quốc và TTCK Nhật Bản và các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng như TGHĐ và lạm phát (được chỉ định bởi chỉ số giá tiêu dùng) của các nền kinh tế ASIAN 3 (Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản). Dữ liệu chuỗi thời tính theo tháng kéo dài trong giai đoạn từ T1/2008 đến T11/2016 với 107 mẫu đã được sử dụng. Bài viết này cũng sử dụng thử nghiệm Granger và hợp nhất Johansen để xác định xem các biến được chọn có được hợp nhất (do đó có thể liên quan đến quan hệ nhân quả) với 3 sàn chứng khoán Ấn Độ (Sàn chứng khoán Nifty), Trung Quốc (Sàn chứng khoán Thượng Hải) và Nhật Bản (Sàn chứng khoán Nikkei) hay không. Hơn nữa, bài viết sử dụng công cụ ước tính PMG (nhóm trung bình gộp) để điều tra sự bất cân xứng có thể có giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK trong 3 nước.

Tính dừng (stationary) của số liệu nghiên cứu được kiểm tra bằng thử nghiệm ADF do Dickey và Fuller (1981) đề xuất. Kết quả ước tính gộp của các nước ASIAN 3 cho thấy TGHĐ có tác động tích cực và lâu dài đối với TTCK trong khi lạm phát có tác động dài hạn tiêu cực và không đáng kể. Theo thử nghiệm kiểm tra quan hệ nhân quả Granger, mối quan hệ hai chiều được tìm thấy giữa sàn Nifty của Ấn Độ và TGHĐ, trong khi sàn Nikkei Nhật Bản và TGHĐ chỉ có mối quan hệ một chiều. Kết quả của VECM cho thấy biến động của giá cổ phiếu tại sàn Nikkei ngược chiều với lạm phát trong khi có mối quan hệ cùng chiều với TGHĐ.

Jawad Khan (2018) đã có bài nghiên cứu xác định ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô khác nhau đến giá cổ phiếu của Pakistan bằng cách phân tích dữ liệu 7 theo tháng từ T5/2000 đến T8/2016. Vì tất cả các biến số đều dừng ở bậc đầu tiên, do đó phương pháp thử nghiệm ràng buộc ARDL lý tưởng được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ trong cả ngắn hạn và cả dài hạn của các biến trên giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, thử nghiệm Phillips-Perron cũng được áp dụng cùng với thử nghiệm ADF để kiểm nghiệm đơn vị gốc của các biến với lựa chọn Newey-West. Các thử nghiệm đã cho thấy kết quả rằng, tất cả các biến đều không có tính dừng ở cấp độ và có tính dừng tại điểm khác biệt đầu tiên.

Kết quả cho thấy giá cổ phiếu của SGDCK Karachi trong dài hạn bị ảnh hưởng đáng kể bởi cung tiền, tỷ giá và lãi suất. Cung tiền có tác động tích cực khá lớn đến giá cổ phiếu, do đó việc mở rộng cung tiền hoặc CSTT lỏng lẻo khiến giá cổ phiếu tăng, và ngược lại, CSTT nghiêm ngặt dẫn đến giảm giá cổ phiếu. Trong ngắn hạn, tất cả các biến trong mô hình đều không đáng kể ngoại trừ TGHĐ có ảnh hưởng tiêu cực với giá cổ phiếu. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp (2013) đã phân tích mối quan hệ của 4 biến vĩ mô là: TGHĐ VND/USD, CPI (đo lường lạm phát), cung tiền M2, giá vàng trong nước đến sự biến động của TTCK Việt Nam, mà cụ thể là qua VN-Index.

Dữ liệu được thống kê theo tháng trong giai đoạn 2004 - 2011. Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định ADF trên bộ dữ liệu chuỗi thời gian để xác định tính dừng, sau đó, tác giả kiểm định đồng tích hợp (Cointegrated Test) bằng phương pháp của Johansen và Juselius để xem liệu có tồn tại mối liên hệ giữa các biến trong dài hạn. Kết quả từ các mô hình và kiểm định cho thấy: “Trong dài hạn, VN-Index biến động tích cực với các biến cung tiền M2 và giá vàng trong nước trong khi chỉ số này biến động tiêu cực với lạm phát và chỉ số giá chứng khoán không có mối liên hệ nào với tỷ giá hối đoái”. VN-Index có mối quan hệ ngược chiều với TGHĐ trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn thì 2 biến này không có sự ảnh hưởng.

Trương Đông Lộc (2014) đã có bài nghiên cứu về đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá của cổ phiếu: các bằng chứng từ sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”. Các biến được nghiên cứu trong bài bao gồm cả các nhân tố vi mô và các nhân tố vĩ mô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô Đến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam (2014 - 2019)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này. Tác giả phân tích các yếu tố như lãi suất, tỷ giá hối đoái và chính sách tài chính, từ đó chỉ ra cách mà những yếu tố này ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và giá cổ phiếu. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích để hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của thị trường chứng khoán, cũng như các yếu tố có thể tác động đến quyết định đầu tư của họ.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán việt nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động của chính sách tiền tệ đến thị trường chứng khoán việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của chính sách tiền tệ trong việc định hình thị trường. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán vn index, để nắm bắt cách mà các yếu tố này tác động trực tiếp đến chỉ số chứng khoán. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.