CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI MỨC ĐỘ THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Chuỗi giá trị và các phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị Muốn tìm hiểu về khái niệm chuỗi giá trị, trước hết ta cần hiểu rõ thuật ngữ “thương mại giá trị gia tăng” bởi đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc phân tích chuỗi giá trị. Theo đó, giá trị gia tăng được hiểu đơn giản là giá trị tăng thêm của sản phẩm, dịch vụ được hình thành trong từng công đoạn trong quá trình sản xuất – kinh doanh.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc giữa các quốc gia hiện nay, thuật ngữ “chuỗi giá trị” lại càng trở nên quen thuộc. Tuy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi giá trị song nhìn chung, có ba luồng khái niệm và nghiên cứu điển hình ứng với ba phương pháp tiếp cận chính. Một là, phương pháp tiếp cận “Filière” (phân tích ngành hàng - CCA) “Filière” được hiểu là chuỗi, mạch. Phương pháp chuỗi là lý thuyết đầu tiên đề cập đến việc nghiên cứu chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị cho một loại hàng hóa nào đó.
Theo đó, dưới góc độ phân tích ngành hàng, “chuỗi giá trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến sản phẩm cuối cùng bao gồm cả sản phẩm và dịch vụ”. Đây là phương pháp chứa đựng các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau, vận dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức, kinh tế ngành, khoa học quản lý và kinh tế chính trị. Ban đầu, phương pháp này được sử dụng để phân tích hệ thống sản xuất nông nghiệp như cao su, bông, cà phê… của các nước đang phát triển dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Sau những năm 1980, phương pháp chuỗi được ứng dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, khung filière không chỉ tập trung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn đặc biệt chú trọng đến mối liên kết giữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Do đó, khái niệm chuỗi filière được nhận thức chủ yếu bằng kinh nghiệm thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia vào các hoạt động. Tuy nhiên, khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào 11 các vấn đề của các mối quan hệ vật chất và kỹ thuật được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi. Với ba đặc điểm chính là tập trung vào những vấn đề của các mối định lượng và vật chất trong chuỗi, sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất và sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm, phương pháp chuỗi filière chỉ áp dụng cho chuỗi giá trị nội địa, nghĩa là những hoạt động nảy sinh trong biên giới của một quốc gia nào đó.
Đây là phương pháp đã mang lại lợi ích cho những tổ chức sử dụng lý thuyết này để quản lý các hoạt động trong một thời gian khá dài. Về sau, các lý thuyết về chuỗi giá trị vẫn thường đề cập đến phương pháp này như là cơ sở lý luận về phân tích giá trị. Nhà cung Nhà Người Nhà sản xuất ứng đầu vào phân phối tiêu dùng Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi giá trị toàn cầu theo phương pháp Filière Nguồn: Filière Hai là, khung phân tích của Michael Porter (1985) Chuỗi giá trị là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học được Michael Porter đề cập đến trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” (1985). Theo đó, chuỗi giá trị được định nghĩa là “tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.
Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định”. (19) Porter đã sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị này để đánh giá xem một DN nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường cũng như trong các mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Từ đó, DN có thể xác định được lợi thế cạnh tranh của mình nhằm tối đa hoá năng lực trong chuỗi giá trị bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm những hoạt động như thiết kế sản phẩm, hậu cần… 12 Như vậy, có thể thấy, khái niệm chuỗi giá trị theo Porter chỉ đề cập đến quy mô ở DN nhưng mô hình này lại được coi là một công cụ hữu hiệu giúp DN đưa ra các quyết định quản lý và chiến lược điều hành hiệu quả.2: Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter Nguồn: Michael Porter (1985) Nhìn vào sơ đồ trên, ta có thể thấy, hoạt động của DN được chia làm hai loại: Thứ nhất, các hoạt động chính: do đây chủ yếu là những hoạt động gắn liền với việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm hoặc dịch vụ nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Trong đó bao gồm: - Hoạt động đầu vào (Inbound Logistics): liên quan đến việc nhận, tồn kho, quản lý các yếu tố đầu vào của sản phẩm sao cho giảm chi phí và tăng năng suất.
- Hoạt động vận hành (Operation): gồm tất cả các hoạt động nhằm chuyển các yếu tố đầu vào thành sản phẩm cuối cùng như tiến hành sản xuất, đóng gói, lắp ráp, kiểm tra và bảo trì thiết bị… Kiểm soát tốt hoạt động này sẽ mang lại những sản phẩm có chất lượng, hiệu suất cao hơn, phản ứng với điều kiện thị trường nhanh hơn. - Hoạt động đầu ra (Outbound Logistics): gồm các hoạt động nhằm đưa sản phẩm đến tay khách hàng như tồn kho, bảo quản, phân phối, xử lý các đơn hàng. Đánh giá chất lượng của hoạt động này cho thấy hiệu suất và mức độ phục vụ khách hàng như thế nào. 13 - Marketing và bán hàng (Marketing and Sales): đây là hoạt động rất quan trọng bao gồm quảng cáo, xúc tiến bán, bán hàng, lựa chọn, quản trị kênh phân phối… - Dịch vụ sau bán (Service): gồm các hoạt động liên quan đến cung cấp các dịch vụ nhằm tăng cường hoặc duy trì giá trị của sản phẩm như lắp đặt, sửa chữa, điều chỉnh sản phẩm, giải quyết các thắc mắc và khiếu nại.
Thứ hai, các hoạt động hỗ trợ: đây là những hoạt động tác động một cách gián tiếp đến sản phẩm và nhờ nó mà các hoạt động chính được thực hiện một cách tốt hơn. Mỗi công ty có một cách hoạt động mang đặc điểm riêng mà từ đó cấu trúc của các hoạt động hỗ trợ có thể được xác định một cách linh hoạt. - Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp: quản trị tổng quát, lập kế hoạch, tài chính – kế toán, pháp lý. Cơ sở hạ tầng đóng vai trò hỗ trợ cho toàn bộ các hoạt động trong dây chuyền giá trị kể cả các hoạt động chính cũng như các hoạt động hỗ trợ khác - Quản lý nguồn nhân lực: bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến tuyển dụng, thuê lao động, huấn luyện, phát triển và vấn đề thu nhập của tất cả các loại nhân sự.
Quản lý nguồn nhân lực hỗ trợ các hoạt động chính cũng như các hoạt động hỗ trợ khác. - Phát triển công nghệ: gồm nhiều hoạt động có thể tập hợp lại trên diện rộng thành những nỗ lực để cải tiến sản phẩm và quy trình. Phát triển công nghệ có thể hỗ trợ bất cứ loại công nghệ nào hiện diện trong các hoạt động giá trị. - Mua hàng: đây là hoạt động thu mua các yếu tố đầu vào được sử dụng trong dây chuyền giá trị của doanh nghiệp.
Công tác thu mua đầu vào bao gồm nguyên liệu thô, các nguồn cung ứng và những sản phẩm để tiêu thụ khác cũng như các tài sản. Ba là, phương pháp tiếp cận toàn cầu Năm 2001, trong cuốn sách “A handbook for value chain research”, Kaplinsky và Morris cũng đã đưa ra định nghĩa: “Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng”. (20) Như vậy, từ khái niệm trên, ta có thể hiểu chuỗi giá trị theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với nghĩa hẹp, chuỗi giá trị chỉ nằm trong khuôn khổ hoạt động của một 14 DN cụ thể, bao gồm tất cả các hoạt động xuyên suốt, liên tục để đưa sản phẩm từ ý tưởng đến thành phẩm cuối cùng.
Nguồn: Kaplinsky (2001) Hình 1.3: Sơ đồ chuỗi giá trị đơn giản theo phương pháp tiếp cận toàn cầu Còn đối với nghĩa rộng, vẫn là một dây chuyền hoạt động ấy nhưng nó được mở rộng trên phạm vi không gian lớn hơn, với sự tham gia của nhiều thành phần hơn như nhà cung cấp đầu vào, người thu gom, nhà chế biến, công ty, người bán sỉ, người bán lẻ. để sản xuất ra một sản phẩm sau đó bán cho người tiêu dùng. Nói cách khác, chuỗi giá trị mở rộng bao gồm: - Một chuỗi các quá trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra - Một sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối người sản xuất, nhóm sản xuất, doanh nghiệp và nhà phân phối liên quan đến một sản phẩm cụ thể - Một mô hình kinh tế trong đó kết nối việc lựa chọn sản phẩm và công nghệ thích hợp với cách thức tổ chức các tác nhân liên quan để tiếp cận thị trường Có thể thấy, cách tiếp cận theo hướng mở rộng này sẽ phù hợp hơn với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay bởi một sản phẩm hoàn chỉnh giờ đây được tạo ra không chỉ bởi một DN tại một quốc gia mà sẽ trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau trên nhiều lãnh thổ khác nhau.