ĐẶT VẤN ĐỀ Ổn định vĩ mô và tăng trƣởng GDP là hai mục tiêu kinh tế vĩ mô hàng đầu ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, việc nôn nóng đạt mục tiêu tăng trƣởng cao sẽ dễ đƣa nền kinh tế đến những bất ổn và những hệ quả khó lƣờng. Từ giữa thế kỷ 20, hầu hết các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách rất quan tâm đến việc nghiên cứu các yếu tố quyết định tăng trƣởng GDP, tăng trƣởng kinh tế ở cấp quốc gia và quốc tế. Các yếu tố quyết định tốc độ phát triển kinh tế đƣợc kể đến nhƣ: năng suất, sự phát triển tài chính, đầu tƣ trong nƣớc, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI, tiết kiệm, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ lạm phát. Fischer (1991) đƣa ra khung lý thuyết để làm rõ tăng trƣởng kinh tế phản ứng nhƣ thế nào với thay đổi mô hình của các chính sách kinh tế vĩ mô.
Nghiên cứu kết luận rằng để đạt đƣợc tăng trƣởng kinh tế bền vững cho một sự ổn định vĩ mô trong thời gian dài là cần thiết, đồng thời tác giả đƣa ra một số bằng chứng cho thấy các chính sách kinh tế vĩ mô là vấn đề mấu chốt cho tăng trƣởng: các quốc gia quản lý các chính sách vĩ mô ngắn hạn tốt hơn có xu hƣớng phát triển nhanh hơn. Dornbusch và Edwards (1990) và Onis (1997) kết luận rằng tình hình bất ổn kinh tế vĩ mô xảy ra ở các nƣớc đang phát triển do quản lý tài chính và tiền tệ không tốt. Kết quả của cả hai nghiên cứu cho thấy rằng có mối quan hệ bất lợi giữa sự bất ổn về kinh tế vĩ mô và tăng trƣởng kinh tế. Kết quả của nghiên cứu xuyên quốc gia của Easterly và Kraay (2000) cho thấy sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng 2 trƣởng kinh tế có sự liên quan tích cực với nhau.
Kết quả của nghiên cứu ủng hộ những phát hiện của Dornbusch và Edwards (1990) và Onis (1997). Caballero (2007) đề cập đến các yếu tố bên trong và bên ngoài chịu trách nhiệm về sự bất ổn trong tăng trƣởng kinh tế. Có một số lý do chính về sự tăng trƣởng GDP không ổn định ở các nƣớc đang phát triển. Thứ nhất, những cú sốc ngoại sinh lớn đến từ các thị trƣờng tài chính và các điều khoản thƣơng mại.
Thứ hai, các quốc gia kém phát triển gặp phải các cú sốc trong nƣớc do sự bất ổn nội tại và các lỗi chính sách (Kharroubi, 2006). Raddatz (2007) nhận thấy những cú sốc trong nƣớc ở các nƣớc đang phát triển có tác động mạnh mẽ hơn trong việc tạo ra sự bất ổn về kinh tế vĩ mô so với các cú sốc từ bên ngoài.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sau khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN) tháng 7 năm 1995 và Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) tháng 01 năm 2007, Việt Nam dần thực hiện các cam kết nhƣ tự do hóa quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, xóa bỏ các hạn chế xuất nhập khẩu, xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu, giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động của doanh nghiệp, các cam kết mở cửa thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ, minh bạch hóa chính sách… hệ thống pháp luật của Việt Nam đã và đang tiếp tục đƣợc hoàn thiện theo hƣớng ngày càng trở nên rõ ràng, minh bạch hơn, tạo ra môi trƣờng kinh doanh bình đẳng. Trong môi trƣờng hội nhập, mặc dù đứng trƣớc cơ hội đầu tƣ và tăng trƣởng vƣợt bậc nhƣng nền kinh tế lại dễ bị tổn thƣơng hơn với các cú sốc bên ngoài (IMF, 2017). Để tiện cho việc nghiên cứu, so sánh và đánh giá, các quốc gia có những đặc điểm tƣơng đồng thƣờng đƣợc nhóm lại.
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đƣợc IMF đƣa vào nhóm ASEAN-5 gồm 5 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philipinnes, Thái Lan và Việt Nam. Theo báo cáo kinh tế thế giới (WEO), đƣợc công bố vào ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): dự kiến tăng trƣởng nhóm ASEAN-5 đạt 5,2% vào cuối năm 2017, ASEAN-5 đang dần trở thành trở thành nhóm tăng trƣởng kinh tế đầy hứa hẹn trong thời gian tới. Nhiều bài học kinh nghiệm và các 3 nghiên cứu khoa học cho thấy tăng trƣởng cực kỳ quan trọng, nhƣng không thể đánh đổi tăng trƣởng bằng sự bất ổn kinh tế vĩ mô. Cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á 1997 đã phơi bày nhiều vấn đề nhƣ sự thiếu hiệu quả về cấu trúc của các ngân hàng, cơ sở hạ tầng tài chính yếu kém, thiếu minh bạch, quản trị yếu kém và các quy định liên quan đến ngành ngân hàng.
Ngoài ra nguy cơ về đạo đức, thông tin không đối xứng, chính sách với tầm nhìn ngắn hạn, các thể chế yếu và các quy định không hiệu quả cũng khiến các nƣớc khu vực ASEAN-5 dễ bị tổn thƣơng trƣớc cuộc khủng hoảng. Nhiều năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, các nhà lãnh đạo ASEAN vẫn thảo luận về việc tạo ra các chính sách kinh tế chung để đảm bảo vừa hỗ trợ tăng trƣởng kinh tế vừa bảo vệ khu vực khỏi những cú sốc kinh tế trong tƣơng lai. Để thực hiện những chính sách bình ổn vĩ mô trong ngắn hạn và duy trì đƣợc môi trƣờng kinh tế ổn định trong trung và dài hạn cần có những mô hình, những chỉ số phân tích chính sách chuyên nghiệp, có khả năng đo lƣờng mức độ bất ổn vĩ mô, từ đó đƣa ra những giải pháp phản ứng nhanh chóng trƣớc những thay đổi trong nền kinh tế nội địa, khu vực và toàn cầu, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững. Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu một nhóm các quốc gia tƣơng đồng giúp ta có cái nhìn khách quan hơn, dễ so sánh, đánh giá mức độ ảnh hƣởng hơn.
Luận văn cung cấp thêm những bằng chứng thực nghiệm về chiều hƣớng và mức độ tác động của bất ổn vĩ mô đến tăng trƣởng kinh tế tại các nƣớc ASEAN-5 nói chung và Việt Nam nói riêng. Về mặt học thuật: Vì số liệu vĩ mô riêng lẻ một quốc gia thƣờng không đủ dài để cho kết quả hồi qui đáng tin cậy, việc sử dụng dữ liệu bảng gồm 5 nƣớc trong nhóm ASEAN-5 sẽ khắc phục nhƣợc điểm này. Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài ―Bất ổn vĩ mô tại và tác động của bất ổn vĩ mô đến tăng trƣởng kinh tế trƣờng hợp các nƣớc ASEAN-5.’’ làm đề tài nghiên cứu.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu tổng quát Đề tài nghiên cứu đo lƣờng, phân tích, đánh giá những chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô tại các nƣớc ASEAN-5 trong suốt giai đoạn nghiên cứu 1995-2015. Đồng thời xem xét chiều hƣớng và mức độ tác động của bất ổn vĩ mô lên tăng trƣởng kinh tế, từ đó đƣa ra các hàm ý chính sách.2 Mục tiêu cụ thể Làm rõ khái niệm bất ổn vĩ mô và đo lƣờng bất ổn vĩ mô tại các nƣớc ASEAN-5 gồm: Indonesia, Malaysia, Philipinnes, Thái Lan và Việt Nam trong suốt giai đoạn 1995-2015.
Xác định mức độ tác động của bất ổn vĩ mô đến tăng trƣởng kinh tế đối với các nƣớc ASEAN-5. Đề xuất các hàm ý chính sách đối với tình hình kinh tế Việt Nam.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Bài nghiên cứu tập trung vào 03 câu hỏi - Bất ổn vĩ mô ở Việt Nam nói riêng và các quốc gia nhóm ASEAN-5 nói chung thay đổi nhƣ thế nào trong suốt giai đoạn 1995-2015? - Bất ổn vĩ mô có tác động nhƣ thế nào đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các nƣớc ASEAN-5? - Cần có những đề xuất gì để đảm bảo nền kinh tế Việt Nam tăng trƣởng bền vững? 1.5 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là tác động của bất ổn vĩ môd dến tăng trƣởng kinh tế nhóm ASEAN-5 gồm: Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Trong đó xác định mức độ bất ổn vĩ mô tại các nƣớc ASEAN-5 đƣợc xác định qua chỉ số MII và mức tác động của sự bất ổn này đến GDP.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Để thấy đƣợc bất ổn vĩ mô, GDP và các biến số vĩ mô khác của nền kinh tế Việt Nam nói riêng và các quốc gia nhóm ASEAN-5 nói chung có những chuyển biến nhƣ thế nào kể từ khi có sự góp mặt của Việt Nam trong khối ASEAN, tôi chọn 1995-2015 là giai đoạn nghiên cứu, thu thập số liệu và tính toán. Phạm vi không gian: Các chỉ số kinh tế vĩ mô của nhóm ASEAN-5 gồm: Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Philippines và Thái Lan về bất ổn vĩ mô và tăng trƣởng kinh tế.
ASEAN là một nhóm 10 quốc gia tại khu vực Đông Nam Á gồm: Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Brunei (Đông Timor cũng là 1 nƣớc Đông Nam Á nhƣng hiện tại chƣa gia nhập ASEAN). Trong đó Singapore là một nền kinh tế dịch vụ và công nghiệp; Brunei là đất nƣớc có thu nhập đầu ngƣời vào hàng cao nhất thế giới nhờ có trữ lƣợng đáng kể dầu mỏ và khí tự nhiên; các quốc gia còn lại đƣợc đƣa vào 2 nhóm có đặc điểm tƣơng đồng là ASEAN-5 gồm: Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Philippines, Thái Lan và nhóm còn lại có thu nhập thấp hơn là: Lào, Campuchia, Myama. Bài luận văn tập trung nghiên cứu nhóm ASEAN-5, nhóm tăng trƣởng kinh tế đầy hứa hẹn trong thời gian tới 1.6 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn sử dụng các phƣơng pháp hồi quy dữ liệu bảng, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh để đánh giá tình hình thực tế, kết hợp các bảng biểu để minh hoạ, chứng minh và rút ra kết luận. Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ nhất, tác giả thực hiện đo lường mức độ bất ổn vĩ mô bằng chỉ số MII: sử dụng cách tính toán Chỉ số bất ổn kinh tế vĩ mô (MII) của Ismihan và các đồng sự (2002) dựa trên bốn biến số kinh tế vĩ mô, bao gồm: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ THNS/GNP, tỷ lệ nợ nƣớc ngoài/GNP và biến động của tỷ giá hối đoái để phân tích và đánh giá tình hình bất ổn vĩ mô.
6 Các chỉ số thành phần đƣợc tính toán dựa trên công thức chung: X t X I (1.1)Trong đó: min t X max X min + t giá trị chỉ số thành phần của biến số vĩ mô X trong năm t; + Xt là giá trị của biến số vĩ mô X năm t; + Xmin (Xmax) là giá trị nhỏ nhất (lớn nhất) của biến số vĩ mô X trong cả giai đoạn nghiên cứu.