Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 4:Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam.
Chương 5: Một số giải pháp và khuyến nghị đề xuất đối với các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC TÀI CHÍNH TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của cấu trúc tài chính tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại. Về cơ bản lý thuyết cấu trúc vốn đƣợc đề xuất bởi Modigliani và Miler (1958) vẫn chƣa có đƣợc dự đoán hợp lý nào cho mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi.
Berger (2002) thông qua việc kiểm lý thuyết chi phí đại diện đã khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại. Trong khi các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này cũng chỉ rõ chiều hƣớng tác động của cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động nhƣng có sự không đồng thuận về xu hƣớng tác động. Những khác biệt của các nghiên cứu này đƣợc luận giải bởi cách tiếp cận đối với từng lý thuyết mà nghiên cứu cụ thể đó ủng hộ.Quan điểm về ảnh hưởng tích cực của cấu trúc tài chính đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Theo cách tiếp cận vấn đề của lý thuyết đánh đổi, trong điều kiện thị trƣờng không hoàn hảo bởi sự hiện diện của thuế, chi phí phá sản và chi phí khánh kiệt tài chính thì mệnh đề về “sự không liên quan của nợ” đƣợc gỡ bỏ.
Modigliani và Miler (1963) cũng đƣa ra đề xuất về việc gia tăng sử sụng nợ để đƣợc hƣởng lợi ích “lá chắn thuế” từ khoản tiền lãi đƣợc khấu trừ, do vậy trong ngân hàng cũng nhƣ trong bất kỳ ngành nào, việc sử dụng nợ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở lập luận trên, giả thuyết chính của các nghiên cứu theo cách tiếp cận này là đòn bẩy tài chính cao hơn (hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn) trong cấu trúc vốn của các ngân hàng thƣơng mại có liên quan đến hiệu quả hoạt động cao hơn. Ủng hộ cho quan điểm này, một số nghiên cứu đã đƣa ra các kết quả về tác động cùng chiều của cấu trúc vốn tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thƣơng mại nhƣ: Trong nghiên cứu năm 2002, Berger nghiên cứu về cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thƣơng mại Mỹ thông qua việc kiểm định lý thuyết chi phí đại diện. Dữ liệu nghiên cứu đƣợc thực hiện trên mẫu 695 ngân hàng thƣơng mại của Mỹ giai đoạn 1990-1995, và đƣợc kiểm tra lại trên tổng thể 7320 ngân hàng Mỹ giai đoạn này.
Kết quả cho thấy: có sự tác động qua lại giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính của ngân hàng. Cụ thể, tồn tại mối tƣơng quan nghịch (-) giữa hiệu quả tài chính (ROE) và tỷ lệ vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản (ECAP-Financial equity capital divided by 7 gross total assets), hay nói cách khác, có sự tác động qua lại tƣơng hỗ (cùng chiều) giữa ROE và đòn bẩy tài chính của ngân hàng. Ngoài ra, theo nghiên cứu cho thấy, hiệu quả tài chính của ngân hàng còn bị tác động bởi tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông khác nhau (cá nhân, tổ chức…), chỉ số tiền gửi thị trƣờng, độ lệch chuẩn của ROE… Navapan và Tripe (2003) nghiên cứu chuyên sâu mối quan hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng ở Úc và New Zealand từ năm 1996 đến 2002. Kết quả thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tỷ lệ an toàn vốn và lợi nhuận ở các ngân hàng New Zealand.
Còn ở Úc, mối quan hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn và ROE không rõ ràng, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng lớn và các ngân hàng nhỏ. Kế thừa nghiên cứu của Berger (2002), Hutchison và Cox (2006) nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng của Mỹ, nguồn dữ liệu đƣợc thu thập từ báo cáo CALL hàng quý của Ngân hàng Dự trữ Liên bang trong hai giai đoạn: từ tháng 12/ 1982 - tháng 12/ 1989 và từ tháng 12/1996 đến tháng 12/2002. Giả thiết thứ nhất của nghiên cứu là: đòn bẩy tài chính có liên quan tích cực đến tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu. Theo Hutchison và Cox để đạt đƣợc lợi nhuận, các công ty cổ phần sử dụng nhiều kỹ thuật và chiến lƣợc khác nhau.
Một trong số đó là chiến lƣợc về cấu trúc vốn. Về cơ bản, một công ty có thể áp dụng đòn bẩy tài chính cao hay thấp: với lợi nhuận ròng trên tổng tài sản không thay đổi thì số vốn cổ phần càng lớn, tổng tài sản chia cho tổng vốn chủ sở hữu của cổ đông càng nhỏ thì lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của Mô hình DuPont càng cao. Do đó các ngân hàng có động cơ để giảm thiểu số vốn cổ phần đã đầu tƣ nhằm tối đa hóa lợi tức trên vốn chủ sở hữu. Mặt khác, khi đòn bẩy tài chính cao cùng với đó là rủi ro tài chính tăng cao, phần lớn tài sản của các ngân hàng là vô hình nhƣ nguồn nhân lực, mạng lƣới khách hàng, lợi thế thƣơng mại, sự tích lũy vốn này làm ngân hàng có nguy cơ thua lỗ nếu lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính.
Vì vậy, để bảo vệ lợi thế và đảm bảo sức mạnh tài chính, ngân hàng sẽ giảm rủi ro tài chính bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính thấp. Do đó quyết định tài chính đƣợc gắn bó với các hoạt động của ngân hàng. Rủi ro kinh doanh cao hơn liên quan đến ROA cao kết hợp với rủi ro tài chính thấp hơn thông qua đòn bẩy tài chính thấp hơn do có số vốn chủ sở hữu cao hơn. Giả thiết thứ hai của nghiên cứu là: đòn bẩy tài chính có liên quan tiêu cực đến tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản.
Thực tế nghiên cứu cho thấy có một mối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy tài chính và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Các bằng chứng ủng hộ giả thuyết rằng có một mối quan hệ tích cực giữa vốn chủ sở hữu và ROA, ROE cho mỗi một trong hai khoảng thời gian.623 quan sát tƣơng ứng. Dữ liệu thô đƣợc sử dụng trong các hàm hồi quy cũng nhƣ hai kỹ thuật thay thế để xử lý tiêu cực và gần bằng 0. Hutchison và Cox đã chứng minh rằng đối với các ngân hàng ở Mỹ, có mối quan hệ tích cực giữa đòn bẩy tài chính và ROE cho cả giai đoạn 1983-1989 và 1996-2002.
Tuy nhiên, kết quả rất nhạy cảm với các vấn đề đo lƣờng dữ liệu. Hơn nữa, tỷ lệ đòn bẩy tài chính và ROE dƣờng nhƣ có sự khác biệt giữa hai giai đoạn nghiên cứu.Và khi quan sát ROA một mô hình tƣơng tự nhƣ với ROE thì họ nhận thấy rằng ROA có liên quan nghịch với đòn bẩy tài chính. Tuy kết luận cuối cùng là mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu của ngân hàng và thu nhập là tiêu cực, nhƣng dƣờng nhƣ các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở các giai đoạn nghiên cứu khác nhau thì các kết quả cũng khác nhau. Nghiên cứu của Pratomo và Ismail (2006) đƣa ra giả thuyết về chi phí của của 15 ngân hàng Hồi giáo ở Malaysia trong giai đoạn 1997-2004, theo đó ngân hàng có đòn bẩy cao có xu hƣớng giảm chi phí đại lý.
Pratomo và Ismail đặt hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng là chỉ số giảm chi phí đại lý và tỷ lệ vốn chủ sở hữu của một ngân hàng nhƣ một chỉ số về đòn bẩy. Pratomo và Ismail đã kiểm tra sự liên kết của hiệu quả lợi nhuận đƣợc đo lƣờng bằng lợi tức trên vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính. Cụ thể, đòn bẩy tài chính có tác động tƣơng hỗ (+) đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu của các nhân tố khác đến hiệu quả tài chính của ngân hàng: độ lệch chuẩn của ROE (SDROE), chỉ số tiền gửi thị trƣờng (HERF) có tƣơng quan thuận, cho vay (LOAN) có tác động ngƣợc chiều nhƣng không có ý nghĩa thống kê, trong khi đó nhân tố đầu tƣ chứng khoán (SEC) có tác động ngƣợc chiều với hiệu quả tài chính, ở mức ý nghĩa 1% quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động ngƣợc chiều với hiệu suất của ngân hàng.
Các kết quả nghiên cứu này cho thấy tuy đòn bẩy tài chính có tác động tƣơng hỗ đến hiệu quả tài chính nhƣng dƣờng nhƣ đối với các ngân hàng quy mô lớn thì tác động này lại có xu hƣớng không đƣợc rõ rệt. Hoffmann (2011) sau khi phân tích lợi nhuận của 11.777 ngân hàng Mỹ, nghiên cứu này tìm cách kiểm tra các yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ trong giai đoạn 1995-2007, với tổng số 108.439 quan sát ngân hàng trong các năm. Phân tích thực nghiệm kết hợp các biến cụ thể (nội sinh) và kinh tế vĩ mô (ngoại sinh) thông qua bộ ƣớc lƣợng hệ thống GMM. Các phát hiện thực nghiệm ghi lại mối liên hệ tiêu cực giữa tỷ lệ vốn và khả năng sinh lời, hỗ trợ quan điểm cho rằng các ngân hàng đang hoạt động quá thận trọng và bỏ qua các cơ hội giao dịch có khả năng sinh lợi.
Trong nghiên cứu của mình, ông nhấn mạnh rằng khung quy định phức tạp của ngành ngân hàng Hoa Kỳ và các yêu cầu về vốn tối thiểu của nó đã ảnh hƣởng đến các quyết định 9 tài chính về thu nhập của các ngân hàng. Ông lập luận rằng mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận không đơn điệu. Nhƣng ông tuyên bố rằng nếu mối quan hệ không đơn điệu bị bỏ qua và tập trung vào hiệu quả duy nhất thì mối quan hệ giữa chúng có thể là tiêu cực. Bởi vì sự gia tăng đột ngột của vốn sẽ không đƣợc sử dụng ngay, do đó nó sẽ dẫn đến giảm lợi nhuận.
Hơn nữa, nghiên cứu này đã phân tích giai đoạn trƣớc cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 2009, khi đó hầu hết các ngân hàng Mỹ đều đƣợc đánh giá cao vào thời điểm đó. Hầu hết trong số đó đã bị phá sản trong hệ thống đánh giá xếp loại S & P.