Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Suy dinh dưỡng 1. Khái niệm Các định nghĩa trước đây cho rằng, SDD là tình trạng cơ thể chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng, gây giảm năng lượng. Tất cả các chất dinh dưỡng đều có thể thiếu nhưng phổ biến nhất là thiếu protein và năng lượng.
Bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em [23]. SDD có ở tất cả các giai đoạn của cuộc đời, từ bào thai đến người lớn tuổi, trong điều kiện được coi là “dinh dưỡng trong suốt vòng đời” [24]. Tuy nhiên, gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm về SDD [1]: Suy dinh dưỡng là sự thiếu hụt, dư thừa hoặc mất cân bằng năng lượng hoặc chất dinh dưỡng của cơ thể. N ó bao gồm các mức độ dinh dưỡng thiếu hoặc thừa khác nhau, dẫn đến những thay đổi về thành phần cơ thể, chức năng cơ thể và kết quả lâm sàng.
N ói cách khác, suy dinh dưỡng là một thuật ngữ bao hàm tất cả các biểu hiện của dinh dưỡng kém và bao gồm từ đói cực độ và thiếu dinh dưỡng đến béo phì [25]. Thuật ngữ SDD bao gồm 2 nhóm tình trạng lớn. Một là “thiếu dinh dưỡng” - gồm thấp còi, gầy còm, nhẹ cân hoặc thiếu VCDD (thiếu các vitamin và khoáng chất quan trọng). Loại còn lại là thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm liên quan đến chế độ ăn uống (như bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường và ung thư).
Việc phát hiện tình trạng thiếu dinh dưỡng và thừa cân, béo phì trong một đối tượng là khá phổ biến (như có thể vừa thừa cân vừa thiếu VCDD). Nguyên nhân suy dinh dưỡng Khung khái niệm của Quỹ N hi đồng Liên hợp quốc (UN ICEF) về suy dinh hưỡng cho bà mẹ và trẻ em (hình 3.1) đã được quốc tế công nhận để hiểu rõ các yếu tố quyết định về suy dinh dưỡng. Khung chia thành 3 cấp độ: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp và nguyên nhân cơ bản [23]. Mô hình nguyên nhân – hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em (Nguồn: UNICEF, 1997) N guyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD là khNu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về chất lượng và bệnh tật ở trẻ em.
6 N guyên nhân sâu xa (tiềm tàng) là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em; Kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế. N guyên nhân cơ bản (gốc rễ) dẫn đến thiếu dinh dưỡng đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính sách, tiềm năng của mỗi quốc gia. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em theo chỉ số Z-score Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [26]. Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể.
Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phNm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử dụng thực phNm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai.
Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phNm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác [27]. Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em.
Đó là các chỉ số chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu… Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ. Theo đó, các số đo chiều cao, cân nặng của trẻ sẽ được sử dụng để tính toán các chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao [28]. Do trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng phát triển không khác nhau theo chủng tộc, nên Tổ chức Y tế Thế giới năm 1980 đã chọn 7 số liệu N CHS (N ational Center for Health Statistics) của Hoa Kì làm quần thể tham chiếu để so sánh. Tháng 4 năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức khuyến cáo sử dụng quần thể chuNn (WHO Child Growth Standards) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ, thay thế cho quần thể N CHS đã được sử dụng trước đó.
ChuNn mới mô tả sự phát triển bình thường của trẻ dưới điều kiện môi trường tối ưu và có thể sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ở bất kỳ nơi nào, bất kể dân tộc, tình trạng kinh tế xã hội và tập quán nuôi dưỡng [29]. Tại Việt N am, Viện Dinh dưỡng cũng đã khuyến cáo sử dụng quần thể chuNn 2006 này [30]. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng các chỉ số Z-scores để đánh giá TTDD ở trẻ. Z- score được tính bằng công thức [31]: Kích thước đo được trị số trung bình của quần thể Z score Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn N hư vậy ta có các chỉ số Z-score tương ứng với các chỉ số nhân trắc bao gồm chiều cao theo tuổi (Height for age Z-score - HAZ), cân nặng theo tuổi (Weight for age Z-score - WAZ), cân nặng theo chiều cao (Weight for length/height Z-score - WHZ).
Ba chỉ số này so sánh chiều cao, cân nặng của một trẻ với giá trị trung bình của quần thể chuNn được nuôi dưỡng tốt cùng tuổi và cùng giới. Chỉ số HAZ được sử dụng để đo lường tình trạng SDD mạn tính ở trẻ. Chỉ số WHZ sử dụng để đo lường SDD cấp tính ở trẻ và chỉ số này có thể thay đổi rất nhanh. Chỉ số WAZ bị ảnh hưởng bởi SDD cấp tính và mạn tính.
Một trẻ được coi là SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gầy còm khi các chỉ số Z-score tương ứng WAZ, HAZ, WHZ dưới -2 [29], [31]. - Cân nặng theo tuổi (WAZ): là chỉ số được dùng sớm và phổ biến nhất. Trẻ có WAZ thấp là trẻ bị SDD chung, không phân được SDD mạn tính hay cấp tính, trường hợp này còn được gọi là trẻ nhẹ cân (Underweight). - Chiều cao theo tuổi (HAZ): phản ánh sự tăng trưởng về chiều cao, HAZ thấp chỉ sự thiếu sức khỏe hay thiếu dinh dưỡng đã kéo dài và tích lũy.
Trẻ có HAZ thấp gọi là trẻ bị thấp còi (Stunting). - Cân nặng theo chiều cao (WHZ): phản ánh trọng lượng với chiều cao cơ thể, chỉ số này thấp là hậu quả của một quá trình cấp tính và nặng dẫn tới mất cân bằng đáng kể, thường là đói cấp tính hoặc bệnh nặng. Trẻ có WHZ thấp gọi là trẻ SDD cấp hay gầy còm (Wasting). Tình trạng dinh dưỡng trẻ em thế giới 1.
Tình trạng thiếu dinh dưỡng Tình trạng thiếu dinh dưỡng ở trẻ em là một gánh nặng của thế giới, đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển, gây ảnh hưởng không chỉ trong lĩnh vực sức khỏe mà còn trong mọi lãnh vực khác như kinh tế, xã hội [32]. N ăm 2020, theo thống kê của UN ICEF, WHO và N gân hàng Thế giới (WB), trên toàn cầu có khoảng có 144,0 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi, 47,0 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị gầy còm, trong đó 14,3 triệu trẻ bị SDD nặng. N hư vậy, SDD vẫn ở tình trạng báo động. Đặc biệt, SDD thể thấp còi giảm rất chậm và SDD thể gầy còm còn ảnh hưởng đến nhiều trẻ em.2 cho thấy, sự phân bố SDD thể thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới.
Có khoảng hơn 90% các trường hợp thấp còi sống ở châu Phi và châu Á. Trong số đó, có hơn một nửa trẻ thấp còi phân bố ở Châu Á (khoảng 78,2 triệu trẻ) và khoảng 2/5 phân bố ở Châu Phi (57,5 triệu) [33]. Tỷ lệ trẻ thấp còi vẫn còn chiếm ở mức rất cao trong cộng đồng (khu vực Đông Phi 34,5%, N am Á 31,7%, Trung Phi 31,5%). Phân bố trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi 2019 (Nguồn: UNICEF, WHO, WB, 2020) N guyên nhân được giải thích cho tỷ lệ SDD cao ở các khu vực trên vì SDD có liên quan chặt chẽ đến nghèo đói [34].
Tác động của nghèo đói đối với các cá nhân có thể được nhìn thấy qua nhiều biểu hiện, bao gồm tình trạng dinh dưỡng kém, mất an ninh lương thực, dễ bị bệnh tật, giảm năng suất, và sự phát triển thể chất và trí tuệ bị tổn hại. N goài ra, những người sống trong cảnh nghèo đói không thể tiếp cận các 9 nhu cầu thiết yếu bao gồm thực phNm dinh dưỡng, môi trường hợp vệ sinh, nơi ở thích hợp và chăm sóc sức khỏe đầy đủ [35]. Do đó, sẽ không sai khi cho rằng, mặc dù SDD là một hiện tượng toàn cầu, nhưng những người sống trong cảnh nghèo đói phải đối mặt với gánh nặng cao hơn. Một nghiên cứu khác đã xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng thấp còi ở trẻ là: trình độ học vấn của mẹ thấp, giới tính nam, hộ nghèo, thời gian cho con bú kéo dài, trẻ nhẹ cân, tuổi của mẹ (<20 tuổi), nguồn nước uống (không được cải thiện), chỉ số BMI (Body Mass Index - chỉ số khối cơ thể) của mẹ thấp (<18,5), tình trạng tiêu chảy, trình độ học vấn và nơi ở của người cha thấp (khu vực nông thôn) [36].
Xu hướng suy giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi giai đoạn 2000-2019 (Nguồn: UNICEF, WHO, WB, 2020) Hình 1.3 cho thấy sự suy giảm tỷ lệ thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới kể từ năm 2000 cho đến 2019.