Chương 1: Cơ sở lý luận về sự truyền dẫn của CSTT thông qua hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng truyền dẫn CSTT thông qua hoạt động tín dụng của các 3 NHTM Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện sự truyền dẫn của CSTT thông qua hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2.1 Khái niệm Chính sách tiền tệ (monetary policy) là quá trình quản lý cung tiền (money supply) của cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mục tiêu (targeting interest rate) để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế (Mishkin, 1992).
Tuỳ điều kiện các nước, CSTT có thể được xác lập theo hai hướng: CSTT mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - CSTT chống thất nghiệp) hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - CSTT ổn định giá trị đồng tiền).2 Các mục tiêu của chính sách tiền tệ 2. Mục tiêu cuối cùng Mục tiêu cuối cùng cụ thể của CSTT của những quốc gia khác nhau thì không giống nhau. Tuy nhiên, CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô nên dù các mục tiêu cụ thể của CSTT ở các nước có thể khác nhau nhưng về cơ bản CSTT đều hướng tới các mục tiêu của kinh tế vĩ mô đó là tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và ổn định giá trị đồng nội tệ (Mishkin, 1992). Ổn định giá trị đồng tiền Ổn định giá trị đồng tiền, được coi là mục tiêu cụ thể nhất, rõ ràng nhất mà bất kỳ một loại CSTT nào cũng phải hướng đến.
NHTW thông qua CSTT ổn 5 định giá trị đồng tiền của nước mình, làm cho đồng tiền đó chấp hành các chức năng của tiền tệ một cách bình thường, qua đó phát huy vai trò tích cực của tiền tệ đối với nền kinh tế-xã hội. Sự ổn định đồng tiền quốc gia thể hiện ở nhiều khía cạnh như: Giá cả nội địa không tăng, giảm đột biến với tỷ lệ lớn. Giá cả ổn định thể hiện qua chỉ số giá hàng tiêu dùng - CPI và chỉ số giá sản xuất- PPI, nhưng phổ biến là sử dụng CPI để đánh giá mức độ ổn định giá cả. Nếu CPI tăng bình quân hàng năm khoảng dưới 10% thì được coi là ổn định.
Thị trường phát triển ổn định và đồng đều trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện giao lưu trao đổi hàng hoá dịch vụ thuận lợi giữa các vùng, các khu vực trong nước. Tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền quốc gia và các ngoại tệ được ổn định. Nếu tỷ giá ổn định, có nghĩa là ổn định đồng tiền quốc gia trên bình diện quốc tế. Đây cũng là điều kiện quan trọng để thức đẩy mối quan hệ ngoại thương và các quan hệ khác giữa các nước phát triển.
Ổn định và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, vì một lý do rất đơn giản là nếu nền kinh tế ổn định và phát triển không ngừng sẽ làm cho nền kinh tế ngày càng lớn mạnh mà còn kéo theo và giải quyết hàng loạt vấn đề của đất nước về giáo dục, an ninh quốc phòng, về y tế, văn hoá… Một nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững sẽ là cái gốc, cái nền tảng của dân giàu nước mạnh. Không giải quyết được bài toán kinh tế, thì hàng loạt vấn đề khác, kể cả chính trị và trật tự xã hội, sẽ bị lung lay và ảnh hưởng nặng nề. Do đó, mục tiêu ổn định và thúc đây tăng trưởng kinh tế phải là mục tiêu xuyên suốt của chính sách tiền tệ quốc gia. Tạo công ăn việc làm, góp phần ổn định trật tự xã hội Đây là mục tiêu có ý nghĩa rộng lớn, đây cũng là mục tiêu giúp giải 6 quyết vấn đề thất nghiệp và sự phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế.
Một xã hội phát triển, một xã hội văn minh phải là một xã hội không có sự phân hoá giàu nghèo quá lớn, không có tình trạng thất nghiệp cao, nếu xét theo khía cạnh kinh tế và việc làm. Nếu chính sách hợp lý (CSTT, chính sách lao động tiền lương, chính sách tài khoá…) sẽ khai thác tốt được nguồn lao động có tiềm năng lớn, lúc này không dừng lại chỗ tạo việc làm mà còn giảm gánh nặng cho Nhà nước và xã hội, là điều kiện để ổn định trật tự xã hội và thúc đẩy kinh tế phát triển. Mục tiêu trung gian Mục tiêu trung gian của CSTT là những biến số tiền tệ mà có thể đo lường được, NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác động dự báo được mục tiêu cuối cùng. Điều đó có nghĩa là biến số tiền tệ đó phải có mối liên hệ với mục tiêu hoạt động và có thể tác động tới mục tiêu cuối cùng của CSTT (Mishkin, 1992).
Ngân hàng thế giới qua đúc kết kinh nghiêm của các nước đã chia mục tiêu trung gian thành ba loại sau: Tổng lƣợng tiền Khuôn khổ lý thuyết cho việc thực hiện mục tiêu trung gian là khối lượng tiền là lý thuyết số lượng tiền. Để thực hiện được mục tiêu này NHTW phải thực hiện các bước sau: (i) đặt mục tiêu cuối cùng về lạm phát trong từng thời kỳ nhất định; (ii) ước tính mức tăng của sản lượng thực tế; (iii) dự báo tốc độ tăng của tốc độ chu chuyển tiền tệ. Tuy nhiên, mục tiêu trên sẽ khó có thể đạt được nến như tốc độ chu chuyển của tiền không ổn định hoặc có sự biến động không theo một chiều hướng sẽ gây khó khăn cho việc dự báo. Chẳng hạn như đối với những nước đang trong quá trình tự do hoá tài chính, tiền tệ hoá nền kinh tế thì cầu tiền tăng nhanh do đó tốc độ chu chuyển của tiền giảm xuống, việc tăng cung tiền có thể không phải là nguyên nhân của lạm phát trong tương lai như lý thuyết số lượng.
7 Do vậy, đối với những nước này cần phải dự báo cầu tiền để đưa ra con số chính sách về khối lượng cung ứng tiền tệ tăng thêm. Tỷ giá Với mục tiêu trung gian là tỷ giá thì mục tiêu của CSTT của nước lựa chọn mục tiêu phụ thuộc vào CSTT của nước neo tỷ giá. Mục tiêu tỷ giá tránh được những biến động ngắn hạn về lãi suất và sản lượng do những biến động khó lường về nhu cầu tiền tệ nếu như chọn mục tiêu trung gian là tổng lượng tiền. Thực hiện mục tiêu tỷ giá có ưu điểm là rất minh bạch và nếu nước neo tỷ giá có lạm phát thấp thì về cơ bản nước bị neo tỷ giá cũng có lạm phát thấp vì sau một thời gian điều chỉnh giá cả ở nước bị neo tỷ giá sẽ sát với nước neo tỷ giá.
Tuy nhiên, khi đặt mục tiêu trung gian là tỷ giá cũng có những bất lợi so với mục tiêu là tổng lượng tiền trong trường hợp có những thay đổi ngược chiều của thị trường đối với nền kinh tế như điều kiện thương mại xấu đi, năng suất thấp, mất thị trường xuất khẩu, khi đó cố định tỷ giá có liên quan tới việc cố định một giá cả tương đối thì không thể ngăn chặn những cú sốc thực đối với nền kinh tế do bị chi phối của sức ép phá giá, sản lượng thực tế sẽ giảm (ít nhất trong ngắn hạn) nếu tiền lương và giá cả trong nước là không hoàn toàn linh hoạt. Lãi suất thị trƣờng NHTW điều hành CSTT hướng lãi suất thị trường theo lãi suất mục tiêu. Lựa chọn lãi suất là mục tiêu trung gian đồng nghĩa với việc hạn chế tác động của mức cầu tiền hoặc cung tiền đến tổng cầu của nền kinh tế. Điều này có nghĩa là khi NHTW đã lựa chọn mục tiêu trung gian là lãi suất thị trường thì không thể đồng thời chọn tổng khối lượng tiền là mục tiêu trung gian.
Thực tiến cho thấy NHTW có thể ấn định được lãi suất danh nghĩa trên thị trường thông qua việc xác định giá tín phiếu kho bạc trên thị trường mở những việc xác định lãi suất thực tế là rất khó đo lường vì nó phụ thuộc vào tỷ lệ lạm 8 phát dự tín. Tuy nhiên với những nước có tự do hoá tài chính thì mục tiêu lãi suất không được lựa chọn. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm soát một các trực tiếp bằng các công cụ CSTT, nhằm thay đổi mục tiêu trung gian và qua đó tác động đến mục tiêu cuối cùng. Theo Mishkin (1992), tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu tiền tệ mà có thể dự báo được mục tiêu trung gian và chịu tác động trực tiếp của các công cụ CSTT.
Mục tiêu hoạt động theo IMR có thể là giá cả tiền tệ (lãi suất) hoặc khối lượng tiền cơ sở. Trong trường hợp NHTW chọn mục tiêu hoạt động là lãi suất thì NHTW là người kiểm soát lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng. NHTW thông qua công cụ CSTT có thể kiểm soát trực tếp lãi suất này. Việc quy định lãi suất trần, lãi suất sàn của NHTW trên thị trường liên ngân hàng nhằm tạo hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường theo mức mong muốn của NHTW, thông qua sự tác động của công cụ CSTT như nghiêp vụ thị trường mở…Trong trường hợp việc chỉ đạo CSTT hầu hết thông qua sự can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnh lãi suất thì tỷ giá được xem là mục tiêu hoạt động.
Nếu mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền cơ sở (MB) thì NHTW phải dự báo khối lượng tiền cơ sở cần tăng thêm thông qua các công cụ của CSTT kiểm soát trực tiếp khối lượng tiền đó. Mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền cơ sở được áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thấp, nhất là trong tình hướng nền kinh tế có lạm phát ở mức cao.