CHƯƠNG I KHÁI QUAT VE TINH HÌNH CÔNG TY THAN DEO NAI TRƯỚC THOI KY DOI MỚI (1960 - 1985) 1. Điều kiện tự nhiên và xã hội Than ở Déo Nai đã được khai thác từ trước năm 1954, thuộc Công ty than Bắc Kỳ do người Pháp quan lý. Năm 1960 Công ty than Déo Nai chính thức được thành lập theo quyết định của Bộ công nghiệp. Công ty than Đèo Nai khai thác than ở bể than Đông Bắc, nằm ở phía Đông Hòn Gai - Cam Phả, trên bờ Vịnh Bái Tử Long.
Diện tích khu mỏ của Công ty là 9 km”, phía Đông giáp với Công ty than Cọc Sáu, phía Bắc và phía Đông Bắc giáp với khu mỏ Công ty Cao Sơn, phía Tây và phía Tây Nam giáp với Công ty than Thống Nhất, phía Nam giáp với quốc lộ 18A, cách 5 km về phái Tây là trung tâm thi xã Cam Phả. Diện tích khu mỏ được giới hạn bởi toạ độ: X - 25000 + 27400 Y - 71000 + 73400 Ngoài những đặc điểm về dia lý trên Công ty than Déo Nai vừa nam sát quốc lộ 18A, vừa nam sát biến, vị trí này rất thuận lợi cho việc vận chuyền than ra cảng Cửa Ông và vận chuyÓn than ra cảng Công ty dé tiêu thụ nội địa và xuất khâu. Công ty than Déo Nai là doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ khai thác than lộ thiên, địa hình khai thác chủ yếu là các gương tầng khai thác thác từ phía Tây Nam và phía Tây Bắc. Địa hình nguyên thuỷ còn sót lại là phần rất nhỏ, đỉnh cao nhất là + 419,6 m ở phía Tây Bắc, điểm thấp nhất là - 31,2 m ở phía Đông, địa hình thấp dần từ Đông sang Tây.
Công ty than Déo Nai nằm trong vùng Cam Pha với địa hình một bên là đôi núi, một bên là biên, nên hoạt động của công ty chịu nhiều ảnh hưởng của khí hậu vùng Đông Bắc. Việt Nam là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt đô trung bình thay đổi từ 23°C đến 32°C, vào tháng 6, tháng 7 nhiệt độ lên tới 32°C đến 33°C. Lượng mưa trung bình từ 1106 mm đến 2800 mm, cá biệt có khi lên tới 3000 mm.
Độ am không khí cao, trung bình từ 75 + 85%. Do điều kiện thời tiết như vậy nên mùa mưa công tác sản xuất thường bị đình trệ, sản lượng không cao. Vụo mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa giảm, thời tiết khô hanh là điều kiện dé công ty tập trung sản xuất tăng sản lượng bù đắp cho sản lượng của những tháng mùa mưa. Tuy vậy, mùa khô thời tiết rét, nhiệt độ có thé xuống thấp từ 7C + 8°C cũng có anh hưởng phan nào tới quá trrình sản xuất.
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc với diện tích là 6099 km”, dân số là 1097, nghìn người, mật độ dân số là 180 người/km”, gồm một thành phó, ba thị xã và mười huyện. Là nơi có trữ lượng than lớn nhất của cả nước vì vậy ngành kinh tế chính ở đây là công nghiệp khai mỏ. Bên cạnh đó ngành du lịch ở Quảng Ninh cũng rất phát triển với thắng cảnh ở Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhưng có một van đề đặt ra cho tinh Quảng Ninh nói chung và các ngành kinh tế nói riêng là muốn phát triển kinh tế du lịch thì đòi hỏi ban lãnh đạo tỉnh phải có những giải pháp cụ thê đối với việc ô nhiễm môi trường, giảm ảnh hưởng đến ngành du lich.
Đây là van đề cần thiết nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt đề. Với lãnh thổ trải dài từ Đông Triều cho đến tận Móng Cái, vì vậy thành phần dân tộc ở đây cũng rất phong phú: dân tộc Tày, Thái, Mường, Sán Dìu vv. Vì là khu tập trung nhiều mỏ khai thác than của cả nước cho nên cấu trúc xã hội ở đây cũng mat cân đối, tỉ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới điều này sẽ dẫn đến hậu quả là nảy sinh nhiêu tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút,vv. Theo thống kê của ủy ban điều tra dân số thì Quảng Ninh là nơi có số lượng người nghiện hút lớn nhất Việt Nam (năm 1999).
Bên cạnh ngành khai thác than, ở đây còn có nhiều dich vụ khác xuất hiện như các công ty may mặc, nhà máy xi măng, ngành chế biến dầu ăn ở cảng Cái Lân, cửa khẩu Móng Cái cũng là trung tâm buôn bán của cả nước. Nói tóm lại Quảng Ninh có cấu trúc kinh tế đa dạng, nhiều ngành nghề với khai mỏ là ngành chính. Vì có thành phần dân cư đa dạng cho nên trình độ văn hóa giữa các vùng không đồng đều, những nơi như thành phố Hạ Long, thị xã Câm Phả, thị xã Móng Cái, thị xã Uông Bí với điều kiện kinh tế khá phát triển, vì vậy tỉ lệ trẻ em đến trường chiếm khoảng 95%. Nhưng ở các huyện còn lại số lượng trẻ em đến được đi học khá thấp, chiếm khoảng 45%, như huyện Tiên Yên, Ba Chẽ.“ Điều này đã phản ánh sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực.
Về tôn giáo, người dân ở đây theo hai đạo chính là đạo Phật và đạo Thiên chúa giáo. Khoảng 25% dân số theo hai đạo này, hầu hết những người theo đạo Phật có độ tuổi từ 60 trở lên. Với điều kiện tự nhiên và xã hội như trên vùng mỏ Quảng Ninh có rất nhiều thuận lợi cho sự phát triển các ngành nghề kinh tế, bên cạnh đó cũng sẽ có nhiều khó khăn mà buộc ban lãnh đạo tỉnh phải có chính sách biện pháp kịp thời để giải quyết, đưa tỉnh Quảng Ninh ngày một phát triển hơn. Quá trình phát triển của Công ty than Déo Nai trước năm 1960 2.1 Sự hình thành và phát triển của khu vực công nghiệp than Quảng Ninh Sau khi bị thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, bằng hòa ước 1864, nhà Nguyễn buộc phải mở một số cửa sông, biển ở miền Bắc cho thương nhân ngoại quốc, chủ yếu là người Pháp, trong đó có cửa sông, biển Quảng Yên, Hải Ninh.
Đến năm 1874, nhà Nguyễn lại kí với Pháp một hòa ước mới, trong đó có một điêu khoản là phải mở thêm cảng Hòn Gai cho (1) Thống kê của ủy ban dân số Quảng Ninh năm 2004 8 tàu thuyền ngoại quốc vào buôn bán. Trên cảng này có đặt Sở Thương chính hỗn hợp Pháp - Việt dé quản lý tàu thuyền ra vào cảng. Trong khi đó, từ giữa thế kỷ XIX đặc biệt là sau cuộc chiến tranh nha phiến, nước Anh đã có một thế lực lớn tại Trung Quốc. Sau khi đánh hơi thấy nguồn lợi than đá dồi dào tại khu mỏ Quảng Ninh và vi tri chiến lược cả về kinh tế lẫn quân sự của nó, dé quốc Anh đã xúi giục nhà Thanh buộc nhà Nguyễn phải dé cho chúng có quyên lợi tại khu này.
Chính vì vậy cuối tháng 11-1883, nhà Thanh đã phái người của Thương cục tới Huế đòi nhà Nguyễn cho khai mỏ than Đông Triều, thuê mỏ than Hòn Gai, chiếm lấy khu mỏ Quảng ninh. Nhưng chúng đã không thực hiện được âm mưu đó. Ngoài ra, người Đức cũng muốn qua Trung Quốc gây ảnh hưởng tới Bắc Kì để vào khu mỏ Quảng Ninh. Chính người Đức đã xin nhà Nguyễn cho mở một số công trường khai thác than, hùn vốn với người Pháp để xây dựng cảng vạn Hoa trên cái Bầu (Kế Bao).
Vậy là từ nửa cuối thé ky XIX trở đi, bên cạnh các công trường khai thác than của người Việt và người Trung Quốc đã có từ trước, lại xuất hiện thêm một số công trường của người Trung Quốc mới, người Pháp và người Đức. Trong khi triều đình nhà Nguyễn chưa thấy được tầm quan trọng của khu mỏ thì tư bản nhiều nước đã ra sức tranh giành ảnh hưởng dé hong làm chủ khu mỏ. Hoạt động ngày càng nhộn nhịp của tàu bè ngoại quốc tại Quảng Ninh sau hòa ước 1874 đã làm cho người Pháp lo lắng về sự cạnh tranh của người nước ngoài đối với họ, đặc biệt là các công ty của Anh dưới danh nghĩa Trung Quốc. Hơn nữa vào cuối thế kỷ XIX, Pháp ráo riết chuẩn bị xâm Bắc Kỳ lần thứ hai nên chúng ra sức tăng cường các hoạt động kinh tế và do thám tại khu vực Quảng Ninh, vì than đá ở đây vào loại tốt nhất thế giới.
Nooc-man, một sĩ quan Anh nói: “Nếu các chiến hạm Pháp được các mỏ than Bắc Kỳ tiếp tế, thì họ có thé ngăn đường Trung Hoa của người Anh, Diễn Điện và Can-quýt-ta sẽ bị phong tỏa.” 09 (1) Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Quảng Ninh, Dư địa chí Quảng Ninh, tập 1, NXBGD, 2000. 9 Cuối năm 1882 thực dân Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần hai, nhà Thanh coi đây là một nguy cơ mất Bắc Kỳ và vùng mỏ than Quảng Ninh vào tay người Pháp. Đồng thời họ cũng coi đây là một co hoi dé xâm lược Bắc Ky mà không bị dư luận phản đối. Họ giương cờ “giúp nhà Nguyễn chống Pháp” dé hong thực hiện da tâm tranh giành quyền lợi của người Pháp.
Đối với tư ban Pháp thì việc chiếm khu mỏ Quảng Ninh là một trong những âm mưu hàng đầu trong việc xâm lược Bắc Kỳ, đặc biệt là sau khi Pháp bại trận trong cuộc chiến tranh Phap-Phé (1870-1871) và bị Đức chiếm nhiều mỏ than quan trọng ở miền Bắc, nền công nghiệp Pháp lâm vào tình trạng khủng hoảng vì thiếu than. Liên tiếp trong các năm 1880-1882, Pháp đã buộc nhà Nguyễn cho chúng cử các đoàn kĩ thuật đến kháo sát thăm dò khu mỏ. Năm 1882, Kỹ sư Phuyt-sơ đã mang than Ha Lam về Pari phân tích. Thay than tốt điều kiện khai thác chuyên chở lại dé dàng, giới chủ tư bản Pháp rat sung sướng và tràn đầy hi vọng vào nguồn lợi này.
Đó chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp để chúng chiếm Quảng Ninh. Ngoài ra, vị trí chiến lược của Quảng Ninh trong việc khống chế đường biển, trong quan hệ Pháp - Trung, Pháp- Anh thông qua quan hệ Việt - Trung, cũng là lý do không kém phần quyết định. Chính vì vậy mà xảy ra sự kiện ngày 12 - 3 - 1883, Pháp đánh chiếm Quảng Ninh và sau đó đặt bản doanh quân sự tại Móng Cái và Phả Lại, biến khu mỏ Quảng Ninh thành vùng nằm lọt giữa hai gọng kìm quân sự và bắt đầu thi hành chính sách cai trị đối với vùng mỏ. Về hành chính, khu mỏ Quảng Ninh thuộc quyền quản lý của Công sứ Quảng Yên và Hải Dương.