Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Nhất Hoàng với đề tài "Sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2002, thuộc chuyên ngành Lý luận Nhà nước và Pháp luật (mã số 25.nn), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hà Hùng Cường và TS. Trần Ngọc Dũng. Toàn bộ công trình có độ dài 187 trang, bao gồm phần mở đầu, 3 chương nội dung với 9 mục chính, kết luận, danh mục công trình đã công bố và danh mục tài liệu tham khảo.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, chủ trương hợp tác kinh tế đối ngoại nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và mở rộng thị trường đã được thể chế hóa thông qua sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Qua gần mười lăm năm thực hiện (1987–2002), khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Mặc dù khung pháp lý về đầu tư nước ngoài từng bước được hoàn thiện qua các lần sửa đổi, bổ sung (năm 1990, 1992, 1996, 2000), nhưng trước yêu cầu đổi mới toàn diện nền kinh tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX, hệ thống văn bản này vẫn bộc lộ những điểm chưa đồng bộ và thiếu thống nhất với tổng thể hệ thống pháp luật trong nước. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về sự hình thành, thực trạng và xu hướng phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật là đòi hỏi cấp bách của cả lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở khảo cứu có hệ thống sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài, đánh giá đúng thực trạng, dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ các khái niệm: đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài và vai trò, vị trí của nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài qua từng thời kỳ lịch sử; đánh giá thực trạng của pháp luật đầu tư nước ngoài về cả ưu điểm và hạn chế.
  3. Dự báo xu hướng phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài và từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài trong tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Thuật ngữ "Luật Đầu tư nước ngoài" được tiếp cận theo nghĩa rộng gồm ba bộ phận cấu thành:
    1. Đạo luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài (do Quốc hội ban hành năm 1987, năm 1996 cùng các đạo luật sửa đổi, bổ sung) và các văn bản trực tiếp hướng dẫn thi hành;
    2. Các chế định pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định trong các đạo luật khác (như Luật Phá sản doanh nghiệp, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự...);
    3. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2002.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong mối tương quan với các cam kết kinh tế quốc tế và khu vực.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học tiêu biểu trong nước và quốc tế đã tiếp cận lĩnh vực pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

  • Luận án Tiến sĩ Luật học của Hoàng Phước Hiệp (1996) với đề tài: "Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam";
  • Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Mạnh Tuấn (1996) với đề tài: "Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện khung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam";
  • Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Hải Hà (bảo vệ năm 2000 tại Cộng hòa Pháp) với đề tài: "Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam";
  • Tập bài giảng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2000): "Những vấn đề cơ bản về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam";
  • Dự án VIE/94-03 của Bộ Tư pháp (1998, Tập II, Phần I): "Pháp luật về các loại hình doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài";
  • Dự án VIE/97-016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1997): "Tăng cường môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh", trong đó có đề tài nhánh về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trên chủ yếu tiếp cận pháp luật đầu tư nước ngoài ở các góc độ chuyên biệt như cơ chế điều chỉnh pháp luật, kỹ thuật hoàn thiện khung pháp luật thực định hoặc cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luận án của Đỗ Nhất Hoàng là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ luật học tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình phát sinh, phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài dưới lăng kính lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, đặt nó trong mối quan hệ giao thoa với các ngành luật khác và định vị xu hướng hội tụ mặt bằng pháp lý giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Học thuyết Mác - Lênin: Luận án dựa trên lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chịu sự quy định của quan hệ kinh tế nhưng có tính độc lập tương đối và có thể "vượt trước" để định hình, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận án vận dụng phân tích của V.I. Lênin về xuất khẩu tư bản trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" và tư tưởng về "Chính sách kinh tế mới" (NEP), hình thức "tư bản nhà nước" để tranh thủ vốn và công nghệ của chủ nghĩa tư bản phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
  • Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX của Đảng về mở cửa nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế theo phương châm "đa dạng hóa, đa phương hóa"; các quy định của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X) về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và quản lý xã hội bằng pháp luật.
  • Các quan điểm khoa học pháp lý trong nước: Tác giả tiếp thu luận điểm của GS.TSKH. Đào Trí Úc về ý chí nhà nước và tính bắt buộc chung của pháp luật, quan điểm của PGS.TS. Chu Hồng Thanh về tính khách quan của pháp luật trong kinh tế thị trường, và nghiên cứu của TS. Hoàng Phước Hiệp về sự ra đời trước của các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án hoàn toàn theo hướng nghiên cứu định tính và lý luận khoa học pháp lý, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm: Áp dụng để làm sáng tỏ cấu trúc các quy phạm phần chung, phần riêng, các chế định pháp lý chuyên biệt trong Luật Đầu tư nước ngoài qua các thời kỳ.
  • Phương pháp phân tích lịch sử pháp lý: Khảo cứu tiến trình phát triển từ Điều lệ Đầu tư năm 1977 đến các đạo luật năm 1987, 1990, 1992, 1996 và 2000.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu mô hình và chính sách pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức).
  • Phương pháp hệ thống hóa và dự báo khoa học: Nhằm xác lập vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật và kiến nghị mô hình luật đầu tư thống nhất.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX; các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (như Hội nghị Trung ương 3 khóa VII).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định: Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 ban hành Điều lệ Đầu tư của nước ngoài; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các năm 1987, 1996 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992, 2000; các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành; Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Đất đai.
  • Các điều ước quốc tế: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA 1998/1999), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, Công ước thành lập Cơ quan Bảo đảm Đầu tư Đa biên (MIGA 1985), 41 hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 34 hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết.
  • Báo cáo chính thức của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp; tài liệu của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1996.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sự hình thành và phát triển pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 1 (trang 1–66) giải quyết các vấn đề tảng nền về mặt lý luận pháp lý, bao gồm tính tất yếu khách quan của việc thu hút đầu tư nước ngoài, các khái niệm, đặc trưng cơ bản, phương pháp điều chỉnh, vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam và vai trò kinh tế - xã hội của nó.

Khái niệm và hình thức, phương thức đầu tư

  • Bốn nguồn tài chính nước ngoài vào một quốc gia: Luận án chỉ rõ 4 nguồn vốn gồm: (1) Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và phi chính phủ (NGO); (2) Tín dụng thương mại; (3) Tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu; (4) Vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Bốn nguồn này có quan hệ tác động qua lại chặt chẽ.
  • Đầu tư nước ngoài: Được định nghĩa là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận. Hai dấu hiệu đặc trưng chính gồm: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và có sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác.
  • Ba hình thức đầu tư trực tiếp tại Việt Nam:
    1. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn thành lập, tự quản lý và có tư cách pháp nhân Việt Nam.
    2. Doanh nghiệp liên doanh: Nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
    3. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Các bên cùng góp vốn kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, không thành lập pháp nhân mới.
  • Năm phương thức đầu tư: Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), Khu chế xuất (KCX) và Khu công nghiệp (KCN).

Vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật

Tác giả tổng hợp và phân tích 4 trường phái quan điểm trong giới khoa học pháp lý Việt Nam:

Quan điểm Nội dung cơ bản Đánh giá của tác giả luận án
Quan điểm 1 Pháp luật đầu tư nước ngoài là một ngành luật độc lập có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng. Không hợp lý: Phương pháp điều chỉnh thực chất mượn từ Luật Kinh tế, Luật Dân sự; mặt khác trong tương lai pháp luật đầu tư nước ngoài sẽ hội tụ với đầu tư trong nước, không tồn tại độc lập lâu dài.
Quan điểm 2 Là một bộ phận của ngành Tư pháp quốc tế vì quan hệ có yếu tố nước ngoài (mô hình của Liên bang Nga). Không hợp lý: Các hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI không thuộc phạm vi điều chỉnh truyền thống của Tư pháp quốc tế.
Quan điểm 3 Là một bộ phận của Luật Kinh tế (phổ biến trong giáo trình của ĐH Luật Hà Nội, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội). Có hạt nhân hợp lý nhưng chưa đủ: Luật Kinh tế không bao quát hết các quan hệ dân sự, lao động, tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh từ đầu tư.
Quan điểm 4 (Tác giả đồng tình) Không thuộc riêng một ngành luật nào mà là nơi giao thoa của nhiều ngành luật (Luật Kinh tế, Tư pháp quốc tế, Dân sự, Lao động, Đất đai...). Hợp lý và có cơ sở khoa học: Phản ánh đúng tính chất phức hợp của các quan hệ kinh tế - xã hội có yếu tố nước ngoài trong nền kinh tế thị trường.

Ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài

  1. Phương pháp thỏa thuận (tự nguyện): Chủ đạo trong việc xác lập hợp đồng, hình thức đầu tư, mục tiêu, tỷ lệ góp vốn theo nguyên tắc các bên cùng có lợi.
  2. Phương pháp mệnh lệnh (bắt buộc): Áp dụng để bảo vệ chủ quyền quốc gia, trật tự kinh tế công cộng, bắt buộc tuân thủ pháp luật sở tại và xử lý vi phạm bằng chế tài hành chính, tư pháp.
  3. Phương pháp khuyến khích: Áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, thủ tục đầu tư để định hướng dòng vốn vào các ngành, vùng sâu vùng xa hoặc lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, sản xuất hàng xuất khẩu.

Bốn đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

  1. Ra đời trước khi có quan hệ đầu tư nước ngoài trên thực tế: Năm 1977 khi Điều lệ Đầu tư ban hành, Việt Nam chưa có hoạt động FDI trên thực tế; pháp luật thể hiện tính "vượt trước" của kiến trúc thượng tầng để mở đường cho quan hệ kinh tế mới.
  2. Thể hiện tính "mở cửa" và "vượt rào" về mặt thể chế: Điều lệ 1977 và Luật 1987 đã thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân, bảo hộ quyền sở hữu và cam kết không quốc hữu hóa vốn đầu tư trước khi Hiến pháp 1992 chính thức hiến định.
  3. Chủ thể mang tính đặc thù: Bao gồm Nhà nước tham gia với tư cách chủ quyền (trong các hợp đồng BOT, BTO, BT), nhà đầu tư nước ngoài, và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (được quyền lựa chọn áp dụng quy chế nhà đầu tư nước ngoài hoặc quy chế chủ đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước).
  4. Cấu thành bởi số lượng lớn các điều ước quốc tế: Bao gồm các hiệp định song phương về bảo hộ đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và hiệp định đa phương của ASEAN.

Vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài

Luận án phân tích 4 vai trò chính: (1) Thúc đẩy thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ ngoại giao kinh tế; (2) Bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài; (3) Bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài song song với bảo hộ sản xuất nội địa; (4) Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.


Chương 2: Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 2 (trang 67–137) tập trung phân tích tiến trình lịch sử, quá trình phát triển của các chế định pháp lý trụ cột và đưa ra những đánh giá tổng thể về thực trạng pháp luật đầu tư nước ngoài.

Tiến trình hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử

  • Giai đoạn 1977–1986: Đánh dấu bằng Điều lệ Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên thể hiện tư duy mở cửa và tiếp cận nền kinh tế thị trường, dù trong bối cảnh cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp còn ngự trị nên kết quả thu hút vốn thực tế chưa đạt như kỳ vọng.
  • Giai đoạn 1987–1996: Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/1987, đặt nền móng pháp lý chính thức cho việc thu hút FDI trong thời kỳ Đổi mới. Đạo luật này được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 1990 (cho phép tư nhân Việt Nam liên doanh với nước ngoài) và năm 1992 (bổ sung các hình thức khu chế xuất, hợp đồng BOT).
  • Giai đoạn 1996–2002: Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (thay thế Luật 1987) và tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào năm 2000. Giai đoạn này đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ theo hướng nới lỏng quản lý hành chính, phân cấp cấp giấy phép đầu tư cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý các Khu công nghiệp, bổ sung cơ chế chuyển nhượng vốn, chuyển đổi hình thức đầu tư và bảo đảm không hồi tố các quy định bất lợi cho nhà đầu tư.

Sự hình thành và phát triển của các chế định pháp lý chủ yếu

Luận án khảo sát sự tiến hóa của các nhóm chế định:

  • Chế định hình thức đầu tư (mở rộng từ liên doanh sang 100% vốn nước ngoài và các hình thức hợp đồng);
  • Chế định bảo hộ sở hữu và bảo đảm quyền lợi nhà đầu tư (cam kết không trưng thu, không quốc hữu hóa, bảo đảm bồi thường thỏa đáng khi pháp luật thay đổi);
  • Chế định tài chính, thuế và đất đai (áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi, miễn giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, giải quyết vướng mắc về giá thuê đất);
  • Chế định lao động và tiền lương (chuyển đổi quy định trả lương bằng ngoại tệ sang tiền đồng Việt Nam để giảm chi phí đầu vào);
  • Chế định giải quyết tranh chấp (thừa nhận thẩm quyền của trọng tài nước ngoài hoặc trọng tài quốc tế đối với các tranh chấp phát sinh).

Đánh giá, nhận xét về thực trạng

  • Thành tựu, ưu điểm: Khung pháp lý ngày càng minh bạch, thông thoáng, bám sát thực tiễn phát triển kinh tế, góp phần quan trọng đưa vốn FDI thực hiện tăng trưởng, mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hội nhập khu vực (ASEAN, APEC, ASEM).
  • Hạn chế, bất cập: Sự tồn tại song song của hai hệ thống luật điều chỉnh đầu tư (Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước) tạo ra sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, thuế suất và quyền tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; hệ thống văn bản hướng dẫn dưới luật còn cồng kềnh, hay thay đổi; thủ tục hành chính cấp phép đầu tư qua nhiều khâu trung gian gây chậm trễ.

Chương 3: Xu hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3 (trang 138–184) xác lập hệ thống nguyên tắc chỉ đạo, dự báo xu hướng vận động và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp luật đầu tư trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.

Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài

  1. Nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và an ninh chính trị: Quá trình mở cửa thu hút FDI phải gắn liền với việc bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia, chủ quyền kinh tế và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật: Khắc phục sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư nước ngoài với các đạo luật chuyên ngành như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Thương mại.
  3. Nguyên tắc từng bước tạo lập môi trường pháp lý bình đẳng: Xóa bỏ dần sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, hướng tới thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và tối huệ quốc (MFN).
  4. Nguyên tắc tương thích với các điều ước quốc tế và thông lệ quốc tế: Đáp ứng các chuẩn mực của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) và chuẩn bị các điều kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Xu hướng và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện

  • Dự báo xu hướng phát triển: Luận án khẳng định xu hướng tất yếu là sự xích lại gần nhau và tiến tới hợp nhất khung pháp lý điều chỉnh đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Trong dài hạn, Việt Nam sẽ không duy trì đạo luật riêng về đầu tư nước ngoài mà xây dựng một Luật Đầu tư chung áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế, đi kèm một đạo luật chung về doanh nghiệp.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    • Hoàn thiện các quy định về hình thức và lĩnh vực đầu tư: Thu hẹp danh mục lĩnh vực cấm và hạn chế đầu tư; mở rộng các hình thức công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài, công ty quản lý vốn, chi nhánh công ty nước ngoài.
    • Cải cách cơ chế quản lý nhà nước và cấp phép đầu tư: Chuyển mạnh từ cơ chế "chuẩn y, cấp phép" mang tính can thiệp hành chính sang cơ chế "đăng ký đầu tư"; đẩy mạnh phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương kết hợp với mô hình "một cửa, tại chỗ".
    • Hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính và tiếp cận nguồn lực: Xây dựng biểu thuế doanh nghiệp thống nhất; cải cách chính sách giá thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng; cho phép nhà đầu tư thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.
    • Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế: Nâng cao năng lực của Trọng tài thương mại và Tòa án kinh tế trong nước, bảo đảm thực thi nghiêm túc các phán quyết của trọng tài quốc tế theo Công ước New York 1958.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố của tác giả, luận án mang lại 4 đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  1. Làm sáng tỏ bản chất lý luận và vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài: Luận chứng thuyết phục rằng pháp luật đầu tư nước ngoài không phải là một ngành luật độc lập mà là nơi giao thoa của nhiều ngành luật khác nhau (Luật Kinh tế, Dân sự, Tư pháp quốc tế, Lao động, Đất đai); đồng thời chỉ rõ ba phương pháp điều chỉnh đặc thù (thỏa thuận, mệnh lệnh, khuyến khích).
  2. Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử pháp luật đầu tư nước ngoài: Khảo sát đầy đủ các chặng đường phát triển từ Điều lệ Đầu tư năm 1977 đến các Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, 1990, 1992, 1996 và 2000, làm rõ đặc trưng "vượt trước" và "vượt rào" của pháp luật đầu tư nước ngoài trong việc khơi thông tư duy kinh tế thị trường tại Việt Nam.
  3. Đánh giá thực trạng khách quan và toàn diện: Phân tích những thành tựu của pháp luật đầu tư nước ngoài trong việc tạo dựng hành lang pháp lý thu hút vốn FDI, chỉ rõ nguyên nhân của các bất cập, mâu thuẫn giữa luật đầu tư nước ngoài và luật điều chỉnh đầu tư trong nước trong tổng thể hệ thống pháp luật.
  4. Xác lập hệ thống nguyên tắc và đề xuất giải pháp, lộ trình hoàn thiện: Dự báo xu thế hợp nhất mặt bằng pháp lý đầu tư, đặt cơ sở lý luận cho việc tiến tới ban hành một đạo luật đầu tư thống nhất chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được thực hiện tại thời điểm năm 2002, do đó phạm vi nghiên cứu tập trung vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI), chưa đi sâu phân tích các chế định điều chỉnh dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) và thị trường tài chính - chứng khoán do bối cảnh thị trường vốn Việt Nam lúc bấy giờ còn ở giai đoạn sơ khai. Các phân tích pháp lý gắn liền với hệ thống văn bản quy phạm thực định đến năm 2000–2002.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu cụ thể hóa cơ chế chuyển tiếp và kỹ thuật lập pháp khi sáp nhập Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước thành một đạo luật đầu tư thống nhất; nghiên cứu sâu về sự tương thích của pháp luật đầu tư Việt Nam với các cam kết đa phương trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học, Kinh tế đối ngoại: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên đề về Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế; đặc biệt là chương 1 về bản chất lý luận, các trường phái vị trí ngành luật và phương pháp điều chỉnh.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lý luận pháp luật: Cung cấp nguồn sử liệu pháp lý hệ thống về lịch sử lập pháp đầu tư của Việt Nam từ sau ngày thống nhất đất nước (1975) qua các mốc 1977, 1987, 1990, 1992, 1996, 2000.
  • Cơ quan soạn thảo chính sách và cán bộ quản lý nhà nước: Các chuyên viên, cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan như Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Hải quan, Địa chính... có thể tham khảo luận cứ ở chương 3 phục vụ công tác xây dựng thể chế và đơn giản hóa thủ tục hành chính đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định vị pháp luật đầu tư nước ngoài như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
Trả lời: Sau khi phân tích 4 quan điểm khoa học pháp lý khác nhau, tác giả khẳng định pháp luật đầu tư nước ngoài không phải là một ngành luật độc lập và cũng không thuộc riêng về Tư pháp quốc tế hay Luật Kinh tế, mà là nơi giao thoa của nhiều ngành luật (Kinh tế, Dân sự, Tư pháp quốc tế, Lao động, Đất đai...).

2. Ba phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài được xác định trong luận án là gì?
Trả lời: Ba phương pháp bao gồm: (1) Phương pháp thỏa thuận (tự nguyện) dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; (2) Phương pháp mệnh lệnh (bắt buộc) nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và trật tự kinh tế; (3) Phương pháp khuyến khích thông qua các chính sách ưu đãi thuế, đất đai để định hướng dòng vốn FDI. Ba phương pháp này có quan hệ hữu cơ và phải được kết hợp hài hòa.

3. Vì sao luận án nhận định pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mang đặc trưng "vượt trước" và "vượt rào"?
Trả lời: Đặc trưng "vượt trước" thể hiện ở chỗ Điều lệ Đầu tư năm 1977 ra đời khi thực tế Việt Nam chưa có hoạt động đầu tư nước ngoài. Đặc trưng "vượt rào" thể hiện ở chỗ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã công nhận thành phần kinh tế tư nhân, bảo hộ quyền sở hữu và cam kết không quốc hữu hóa vốn đầu tư trước khi các nguyên tắc này được chính thức hiến định trong Hiến pháp năm 1992.

4. Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài có những nét đặc thù nào được luận án nhấn mạnh?
Trả lời: Luận án chỉ ra ba chủ thể mang tính đặc thù cao: (1) Nhà nước Việt Nam tham gia với tư cách chủ thể có chủ quyền trong các hợp đồng BOT, BTO, BT; (2) Nhà đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh đồng thời của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc gia họ mang quốc tịch và các điều ước quốc tế; (3) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền lựa chọn quy chế nhà đầu tư nước ngoài hoặc quy chế chủ đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.

5. Luận án dự báo xu hướng căn bản nào của pháp luật đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo?
Trả lời: Luận án dự báo xu hướng tất yếu là sự thu hẹp khoảng cách phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tiến tới hợp nhất hai hệ thống pháp lý thành một mặt bằng chung, tạo cơ sở cho việc ban hành một Luật Đầu tư thống nhất áp dụng cho mọi chủ thể kinh doanh tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Nhất Hoàng là một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về sự hình thành, phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm sáng tỏ bản chất đa ngành, tính chất giao thoa và các phương pháp điều chỉnh đặc thù của pháp luật đầu tư nước ngoài, đồng thời đúc kết quá trình tiến hóa lập pháp từ năm 1977 đến năm 2000. Những luận cứ lý luận và nguyên tắc chỉ đạo mà luận án xây dựng đã dự báo chính xác xu thế hợp nhất mặt bằng pháp lý đầu tư, mang lại giá trị khoa học và cơ sở thực tiễn quan trọng cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế.