Chương 1 MỘT SỐ VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIET NAM 1. SỰ CAN THIẾT PHAI CÓ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Tính tất yếu khách quan của việc thu hút đầu tư nước ngoài Trong lịch sử thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện từ thế ky thứ XVI. Các nước tư ban phát triển nhất thời kỳ đó như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã đầu tư vốn vào các nước châu Á, châu Phi.
để mở đồn điền, khai thác khoáng sản, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển ngày càng có phạm vi, quy mô lớn hơn với những hình thức ngày càng phong phú hơn. Trong thế kỷ thứ XIX, các nước tư bản phát triển đã tích lũy được những khoản tu bản khổng lồ. Đó là tiền dé quan trong cho việc xuất khẩu tư bản.
Theo nhận định của V. Lênin trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, thì xuất khẩu tư bản là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tức chủ nghĩa tư bản độc quyền. Lénin cho rằng, "chủ nghĩa tư bản tăng thêm lợi nhuận bang cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài vào những nước lạc hậu. Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công ha, nguyên liệu rẻ” [45, tr.
Khoa học kinh tế đã chỉ ra rằng, đó là một hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan. Khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài. Đây chính là quá trình phát triển của sức sản xuất xã hội, đến độ vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, theo quy luật sẽ hình thành quy mô sản xuất xuyên quốc gia. Để tăng thêm lợi nhuận, các nhà tư bản ở các nước phát triển phải thực hiện đầu tư ra nước ngoài, thời gian đầu thường là vào các nước lạc hậu hơn, vì ở đó các yếu tố đầu vào của sản xuất còn rẻ, lợi nhuận thu được thường cao hơn.
Khi đưa ra “Chính sách kinh tế mới” V. Lênin đã cho rằng, những người cộng sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản thông qua hình thức "tư bản nhà nước”. Theo quan điểm này, nhiều nước đã "chấp nhận" phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, vì như thế có thể đi nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn để mua lại kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển. Mặt khác, mức độ “bóc lột” của các nước tu bản cũng còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của các nước tiếp nhận tư bản.
Nếu như trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ, thì ngày nay, các nước nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo pháp luật, sự quản lý của chính phủ nước sở tại và thông lệ quốc tế. Một khó khăn lớn của hầu hết các nước đang phát triển trong đó có nước ta là thiếu vốn đầu tư. Có thể nói, vốn đầu tư là yếu tố quyết định để các nước này đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của nhân dan. Ở các nước đang phát triển, nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên thường chưa được sử dụng hết hoặc không được sử dụng vì thiếu các điều kiện vật chất cho quá trình lao động, sản xuất.
Bản thân các nước đang phát triển lại ít có khả năng tự tích lũy vì năng suất lao động thấp, sản xuất hầu như không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với bước phát triển ban đầu của các nước này. Đặc biệt, trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới hiện nay, các nước đang phát triển bị đặt vào tình huống phải tạo được tốc độ phát triển nhanh để đuổi kịp các nước phát triển và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nguy cơ tụt hau không cho phép các nước đang phát triển được chậm trễ hay có cách lựa chọn nào khác.
Trong điều kiện thé giới và khu vực có nhiều quốc gia có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài, thì các nước đang phát triển có cơ cơ hội tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật của nước ngoài để phát triển kinh tế. Ngoài các đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển, Việt Nam còn có những đặc thù riêng của một đất nước đã phải trải qua nhiều năm chiến tranh ác liệt. Nền kinh tế sau chiến tranh đã bị tàn phá nặng nề, lại vấp phải những sai lầm nghiêm trọng trong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ mô và vi mô của thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp, nên đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Trong thời gian dài trước năm 1990, Việt Nam không có tích lũy từ trong nội bộ nền kinh tế.
Một phần lớn tích lũy phải dựa vào vay nợ và viện trợ chủ yếu của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu trước đây, sau này là từ nhiều chính phủ và các tổ chức trên thế giới. Để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, Việt Nam phải tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài. Đây là điểm nút để nước ta thoát ra khỏi cái vòng luẩn quần của sự nghèo đói. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tác dụng của nhân tố bên ngoài, biến nó thành nhân tố bên trong, thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Có thể nói rằng, ở đâu và nước nào thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì ở nước đó, nền kinh tế đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng. Vì vậy, trên thế giới đang diễn ra một cuộc cạnh tranh gay gắt nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, nơi có những tiềm năng to lớn về lao động, tài nguyên. nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng, thì việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lại càng mang tính tất yếu khách quan và có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Muốn đạt được mục đích thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm quý báu của nhiều nước cho thấy, 10 Việt Nam cần phải tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, giữ vững ổn định kinh tế vi mô, ổn định chính trị và thực hiện cải cách nền kinh tế để từng bước hội nhập vào quỹ đạo phát triển kinh tế thế giới. Sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài bằng pháp luật Trong xã hội, pháp luật là một phương tiện quan trọng bậc nhất không thể thay thế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý đời sống xã hội, bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển, phù hợp với những mục đích mà Nhà nước và xã hội dat ra. Nghị quyết số 51/2001/QHI0 ngày 25/12/2001 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Điều 2 quy định: "Nha nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN ".
Quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng, là chức nang cơ ban hàng đầu của Nhà nước trong điều kiện lịch sử hiện nay. Để thực hiện chức năng này, Nhà nước phải nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan của sự vận động kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước và các điều kiện quốc tế, sử dụng đồng bộ và hợp lý các công cụ kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế. Trong hệ thống các công cụ và biện pháp để Nhà nước điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trong. Sự cần thiết phải điều chính hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật được thể hiện ở một số nội dung sau đây: Thứ nhất, pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước, luôn luôn gắn Liền với Nhà nước và chi Nhà nước mới sử dụng công cụ pháp luật.
Nhà nước li điều chính các quá trình xã hội và hành vi hoạt động cua con người, trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bang quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước khác với các quyền lực khác ở chỗ, nó được thực hiện bằng một cơ chế thực thi pháp luật. Nhờ có quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị thực hiện những lợi ích của mình, buộc cả xã hội phải tuân theo và phục tùng ý chí của mình bằng cách đề ra pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tế. Lênin cho rằng: "Y chí, nếu nó là ý chí của Nhà nước, thì phải được biểu hiện dưới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra, nếu không thì hai tiếng ý chí chi là một sự rung động không khí do những âm thanh rỗng tuếch gây nên" [112, tr.
Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều đó có nghĩa, chỉ có điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật, thì quyền lực nhà nước mới có ý nghĩa và mới đem lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, ý chí của Nhà nước thể hiện trong pháp luật, xét đến cùng, không phải do ý chí chủ quan của một người nào, mà chính nó được hình thành một cách khách quan do các quan hệ kinh tế khách quan quy định.